Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”


CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”

“Những anh công nhân bốc xếp như chúng tôi vì cái tội ngửi mùi mồ hôi của nhau nhiều hơn mùi mồ hôi vợ mà mang nợ nhau. Chuyện của những người quanh tôi gắn bó với tôi nhiều lắm, không dứt ra được, cho nên cứ phải viết về họ: - Tâm sự của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khi nói về đề tài công nhân lao động trong các sáng tác của anh. Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” hay bất kì cuốn sách nào do anh viết, ít ai biết rằng tác giả của những tập truyện ngắn và tiểu thuyết ấy là một người công nhân lái cần trục chân đế tại Cảng Hải Phòng, được bạn văn yêu mến đặt cho tên gọi thân mật “ nhà văn công nhân”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng. Học xong phổ thông, vào bộ đội rồi trở về quê hương học nghề, anh trở thành công nhân điều khiển cần trục chân đế ở Cảng Hải Phòng. Thế rồi hình ảnh của những người thợ cùng với cuộc sống sôi động luôn hiện ra trước mắt anh. Anh cho rằng, hiện thực cuộc sống lao động với những người công nhân Cảng Hải Phòng đã và đang diễn ra trước mắt đủ nuôi cả một đời văn cho những ai ham mê viết lách, chẳng riêng gì anh.
Đọc tác phẩm của Nguyễn Quốc Hùng thấy rõ tình cảm của nguồi viết với nhân vật. Và có lẽ đó cũng chính là mạch nguồn nối dài “nghiệp văn” của anh. Năm 2005, anh cho in cuốn tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa”. Nhân vật ông Phiện là một người công nhân bốc xếp có ngoại hình thô ráp, mang tính bẳn gắt của người lao động nặng. Nhưng khi phải chia tay nhóm học sinh thực hành tại Cảng, ánh mắt mang theo niềm xúc động, da diết. Cuộc sống tươi trẻ, hồn nhiên của nhóm học sinh đã làm khuấy động cuộc sống của ông. Tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa” từng đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam năm 2006.
Sau này, Nguyễn Quốc Hùng vẫn tiếp tục khắc họa hình ảnh ông Phiện, giữ nguyên ngoại hình và tính cách trong một số tác phẩm khác. Bởi lẽ, câu chuyện chia tay với nhóm học sinh đến lao động thực tế tại Cảng cùng ánh mắt rưng rưng niềm xúc động của người công nhân Cảng là một câu chuyện hoàn toàn có thật.  Từ đấy mà anh đi tìm mãi những ý tưởng, những cốt truyện xoay quanh ánh mắt ấy. Đọng lại sâu lắng và thành công sau này còn có truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông”.
Một điều đặc biệt là Nguyễn Quốc Hùng chỉ viết âm thầm. Âm thầm như bản tính trầm lặng của anh vậy. Không mấy ai ở xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu biết đằng sau những giờ làm việc căng thẳng, anh vẫn say mê sinh hoạt trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ của thành phố, sau này được kết nạp vào Hội Nhà văn Hải Phòng, rồi Hội Nhà văn Việt Nam. Khi anh đã có những truyện ngắn được đăng trên một số tờ báo và tạp chí văn chương, thâm chí đoạt giải thưởng cho cuốn tiểu thuyết và cuộc thi truyện ngắn trên báo Văn Nghệ thì đồng nghiệp ở Cảng cũng vẫn không biết anh là một cây bút ham mê sáng tác văn học. Anh cũng thực sự rất thích và yêu mến cái tên gọi “Nhà văn công nhân” mà mọi người vẫn thường gọi mình.
Sau “Chuyến hàng mưa” – cuốn tự truyện của người công nhân Cảng, Nguyễn Quốc Hùng xuất bản tập truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông” , tập hợp những tác phẩm của anh đã đăng ở một số báo và tạp chí văn chương. Rồi đến “Dòng sông chở kiếp” viết về đề tài nông thôn. Anh giới thiệu “Dòng sông chở kiếp” đưa bạn đọc trở về với một làng quê vùng châu thổ sông Hồng, nơi có ánh đồng, có ngôi chùa thấp thoáng sau rặng tre, nơi có những người nông dân chất phác, thật thà, quanh năm một sương hai nắng, bỗng phải đối mặt với đầy những biến động trong đời thường nơi thôn dã.  Gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” xuất bản năm 2011. Cuốn tiểu thuyết được nhận xét rằng đã chạm đến tận cùng tâm tư của người lao động. Cũng đúng thôi, bởi một lần nữa, Nguyễn Quốc Hùng lại chạm đến đề tài “tủ” của mình bằng tất thảy tình cảm dành cho những đồng nghiệp. Rồi đây, những nhân vật như ông Phiện (Chuyến hàng mưa), như Phương (Thủy sinh) ... sẽ còn được khắc họa sinh động, rõ nét trong mỗi trang văn của anh.
Đầu sách đã được xuất bản của Nguyễn Quốc Hùng chưa nhiều, tài sản văn chương chưa hẳn “giàu có” nhưng điều quý giá ở anh chính là sự “giàu có” trong tâm hồn văn. Nói vậy chắc cũng chẳng quá với một người công nhân, đã lấy văn chương làm niềm vui, niềm đam mê. Người công nhân ấy làm việc theo ca kíp, thời gian dành cho văn còn quá ít. Viết được một truyện ngắn, một tiểu thuyết hay thật khó. “Nhưng khó lại chính là động lực cuốn được sự đam mê của con người” – anh khảng định chắc nịch.
Huyền Trâm
(Báo An ninh Hải Phòng – số 3006 – thứ tư ngày 23 tháng 10 năm 2013)


Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

"THỜI" CỦA VĂN HỌC CÔNG NHÂN (Nhà văn Phong Điệp trả lời phỏng vấn)




(Nhân Dân) - Theo dõi đời sống văn học nhiều biến động, không ít người bày tỏ sự nghi ngờ về sức hút của văn học về đề tài công nhân. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng, văn học về đề tài công nhân không còn cần thiết. Phải chăng đã qua "thời" của văn học công nhân?
"Một thuở vàng son"
Sự thiếu vắng những tác phẩm văn học thật sự hấp dẫn, thuyết phục về đề tài công nhân khiến nhiều người không khỏi tiếc nhớ đến một giai đoạn "vàng son" trong quá khứ. Giai đoạn đó, rất nhiều nhà văn đã thành danh và ghi dấu ấn của mình với mảng đề tài này. Đó là Nguyên Hồng với bộ tiểu thuyết Cửa biển;Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ, Một chiều giông gió; Trần Nhuận Minh với Âm điệu một vùng đất, Thành phố bên này sông, Trước mùa mưa bão, Hòn đảo phía chân trời... Đó là Lý Biên Cương lăn lộn làm báo Vùng mỏ và từ đó đã viết ra những tác phẩm ấn tượng như: Khoảng không của đất, Người đãi vàng... Ông đã đoạt giải thưởng chính thức văn học về đề tài công nhân lần thứ I của Hội Nhà văn và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Xuân Cang với Suối gang, Lên cao, Trước lửa, Chặng đường nóng bỏng. Ông đã nhận Tặng thưởng văn học đề tài công nhân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần I (1969 - 1971) và lần II (1972 - 1974). Đó là Võ Huy Tâm, người con của tỉnh Nam Định đã theo gia đình đến sinh sống và lập nghiệp ở vùng mỏ. Những ngày tháng làm thợ mỏ ở mỏ than Uông Bí đã giúp ông có những trải nghiệm quý giá để viết nên tác phẩm nổi tiếng Vùng mỏ(tiểu thuyết đoạt giải nhất Giải thưởng Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951-1952). Ngoài ra ông còn nhiều tác phẩm khác vẫn trung thành với người thợ mỏ như: Chiếc cán búa, Ngõ ngang xóm thợ, Những người thợ mỏ... Đó là Võ Khắc Nghiêm với Xung đột âm thầm, 16 tấn vàng, Tìm lại chính mình, Mạnh hơn công lý. Ông đã đoạt giải A văn học về đề tài công nhân năm 1990-1995. Một nhà văn nữa cũng rất đặc sắc là Tạ Vũ, người đã được tặng thưởng của Tổng Công đoàn Việt Nam năm 1975 cho tập Những cánh chim trời. Suốt thời tuổi trẻ của mình, Tạ Vũ xung phong đi khôi phục đường sắt ở miền tây, đi làm công nhân thăm dò địa chất. Ông không ngại xông pha, để rồi cho ra đời những tác phẩm thật sự ám ảnh với độc giả.

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Nhà văn công nhân đam mê viết về người lao động




Bùi Thu Hằng
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, với niềm đam mê sáng tác về đề tài công nhân. Anh viết như để trả nợ, những cuộc đời lam lũ, đã đồng hành cùng anh, mà “Đồng cam cộng khổ. Anh mượn những nhân vật có thật để nói nên trăn trở của mình, số phận mình . Anh bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên vào ngôi nhà văn chương, từ câu lạc bộ sáng tác văn trẻ Hải Phòng, rồi trở thành Hội viên hội nhà văn Hải Phòng. Hội viên hội nhà văn Việt Nam. Trong mười năm, từ năm 2005 - 2015, cùng với guồng quay chóng mặt, sáu tiếng một ca với công việc  lái cần trục chân đế cho Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu. Anh đã trăn trở với những trang viết nhọc nhằn về số phận con người lao động, trong kiếp phù sinh. Anh cho ra đời liên tiếp 4 tập tiểu thuyết, và 1 tập truyện ngắn. Tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa”,  xuất bản năm 2005. Tập truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông”, xuất bản năm 2008. Tiểu thuyết “Dòng sông chở kiếp”, xuất bản năm 2009. Tiểu thuyết “Thủy sinh”, xuất năm 2011. Tiểu thuyết “ 720 độ góc luân hồi”, xuất  bản năm 2015. Mười năm, với bút lực dồi dào, số lượng những đứa con ra đời của anh chỉ liệt kê cũng đủ hoa mắt. Các tập sách của anh liên tiếp nhận được các giải thưởng, từ Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, Báo Văn nghệ. Đặc biệt năm 2015 tập tiểu thuyết “720 độ góc luân hồi’ của anh được giải nhì Cuộc vân động sáng tác văn học về đề tào Công nhân và Công đoàn giai đoạn 2010 – 2014.

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

KHÁM PHÁ MỘT GÓC NHỎ CỦA HẢI PHÒNG TRONG THƠ HOÀI KHÁNH


“Và trong tôi có một Hải Phòng / Khi em nhắc tới màu hoa phượng đỏ” Phải tự hào với mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên, nhà thơ Hoài Khánh mới có những câu thơ da diết như vậy trong tập thơ Có một Hải Phòng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn bản vào tháng 10 năm 2015.
Hải Phòng, vùng đất mà nắng làm bạc thêm lưng áo người thợ và gió làm rộn thêm tiếng còi tầu hú dài trên bến cảng, cả màu hoa phượng cũng đỏ căng để sắc màu được cháy hết mình, giống như cuộc sống sôi động của con người nơi đây. Qua tập thơ Có một Hải Phòng, nhà Thơ Hoài Khánh sẽ dẫn bạn đọc đi qua những địa danh mang vẻ đẹp rất riêng của thành phố Hải Phòng. Trước hết là Hòn Dáu, hòn đảo nhỏ có địa thế và cảnh quan thơ mộng. Trên đó còn có ngọn hải đăng cùng trạm thủy văn mà đến với khu du lịch Đồ Sơn ai cũng muốn ghé thăm.
                          Thấp thoáng mảnh mai dốc đảo
                          Theo lối em rất riêng
                          Gió đại dương phồng căng ngực áo
                          Đồ Sơn mặt trời ngả nghiêng …
                                         ( Viết ở trạm thủy văn Hòn Dáu)
Rồi đến Thăm đền Trạng Trình ngày xuân
                          Vào đền cúi lạy hồn thiêng
                          Ngoài sân cái rét tháng giêng cũng gày
                          Bạch Vân Am ở chốn này
                          Hồn người xưa đã theo mây về trời

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”




Huyền Trâm

(Báo An ninh Hải Phòng – số 3006 – thứ tư ngày 23 tháng 10 năm 2013)
“Những anh công nhân bốc xếp như chúng tôi vì cái tội ngửi mùi mồ hôi của nhau nhiều hơn mùi mồ hôi vợ mà mang nợ nhau. Chuyện của những người quanh tôi gắn bó với tôi nhiều lắm, không dứt ra được, cho nên cứ phải viết về họ: - Tâm sự của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khi nói về đề tài công nhân lao động trong các sáng tác của anh. Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” hay bất kì cuốn sách nào do anh viết, ít ai biết rằng tác giả của những tập truyện ngắn và tiểu thuyết ấy là một người công nhân lái cần trục chân đế tại Cảng Hải Phòng, được bạn văn yêu mến đặt cho tên gọi thân mật “ nhà văn công nhân”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng. Học xong phổ thông, vào bộ đội rồi trở về quê hương học nghề, anh trở thành công nhân điều khiển cần trục chân đế ở Cảng Hải Phòng. Thế rồi hình ảnh của những người thợ cùng với cuộc sống sôi động luôn hiện ra trước mắt anh. Anh cho rằng, hiện thực cuộc sống lao động với những người công nhân Cảng Hải Phòng đã và đang diễn ra trước mắt đủ nuôi cả một đời văn cho những ai ham mê viết lách, chẳng riêng gì anh.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

ĐỘI NGŨ VIẾT VĂN TRẺ HẢI PHÒNG HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG “HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”



(Bình minh mưa)

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người hiện thân của những giá trị đạo đức, văn hoá của dân tộc - Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng để toàn đảng, toàn dân noi theo. Coi đạo đức là nền tảng của con người cách mạng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
 "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là cuộc vận động sâu rộng trong toàn đảng, toàn dân ta nhằm đáp ứng được với những vận hội mới, thách thức mới, để đưa nước ta trở nên đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, báo đáp lại công ơn của con Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập, thống nhất cho dân tộc Việt Nam, vì một thế giới hoà bình và phát triển. Hội liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố Hải Phòng phát động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học - nghệ thuật về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là hành động thiết thực của những văn nghệ sĩ đất Cảng góp một tiếng nói cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào "Người tốt việc tốt", nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.
Ngày 20 tháng 10 năm 1946, khi đặt chân xuống bến Cầu Ngự Người hằng mong, Hải Phòng sẽ trở thành thành phố gương mẫu trong nước ta. Trải qua chặng đường dài đấu tranh và dựng xây, chúng ta đã làm được gì để thoả lòng mong mỏi của Người? Đội ngũ công nhân Hải Phòng đã đóng được những con tầu trên năm vạn tấn, hơn mười hai triệu tấn hàng hoá qua đôi vai người công nhân Cảng đi đến mọi miền Tổ quốc, hàng triệu tấn sắt thép, xi măng ra lò ... Hãnh diện lắm chứ khi thành phố đã thực sự là một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu trong cả nước.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

NHỮNG BỨC ẢNH TẠI ĐẠI HỘI IX HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

(Nguyễn Quốc Hùng)

(BCH từ trái qua phải: Nguyễn Bình Phương, Khuất Quang Thụy, Trần Đăng Khoa, 
Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Trí Huân)

(Nhà văn Vũ Tú Nam)

( Cùng nhà văn Phạm Viết Đào)

(Hai cha con nhà văn Lê Hồng Thiện, Lê Hồng Nguyên)


(Nhà văn Mạc Can và nhà thơ Tạ Văn Sỹ)

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

DUNG DĂNG DUNG DẺ, DẮT BIỂN LÊN TRỜI

(Với nhà thơ Hoài Khánh)

“Dung dăng dung dẻ, dắt biển lên trời” - Đọc xong tập thơ Dắt biển lên trời của nhà thơ Hoài Khánh do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành tháng 2 năm 2012, những câu chữ này chợt bật lên trong tôi. Vế đầu là câu đồng dao quen thuộc, vế sau là một câu hoàn toàn phi lý. Nhưng cả câu có một đặc điểm chung đó là dễ nhớ, dễ thuộc, giầu âm thanh và hình ảnh. Đó mới là trẻ con!
Con đường đến trường của bầy trẻ thơ làng chài thật độc đáo, thật hình tượng.
                          Từ làng chài vào lớp
                          Đường nằm trong khoang thuyền
                          Bầy trẻ thơ đi học
                          Ngồi trên sóng chơi vơi
                                          (Đường ở đảo)
Một hiện tượng thiên nhiên đã được nhân hoá. Sấm dữ dội với người lớn nhưng với trẻ thơ thành người bạn hiền, gần gũi, mới xa nhau mấy tháng đã nhớ nhung, mong  đợi, dỗi hờn.
                          Trốn suốt mùa đông
                          Chẳng về ăn tết
                          Tháng ba rét hết
                          Sấm mới chơi xuân
                                                    (Sấm)

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

CHẤT XÚC TÁC LÀM NÊN “KỊCH ĐỘC” CỦA NHÀ VĂN LƯƠNG VĂN CHI


(Nhà văn Lương Văn Chi)

Những con người nhọc nhằn, bon chen để kiếm lấy miếng ăn hàng ngày chỉ với ước mong nhỏ nhoi là sẽ được tồn tại, sẽ được sống. Những phận người lay lắt, lập lờ trôi trên dòng sông cuộc đời. Trôi về đâu? Và đâu là giá trị trường tồn của cuộc sống? Đọc và cùng cảm nhận những suy nghĩ đó với nhà văn Lương Văn Chi qua tập truyện ngắn Kịch độc do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành tháng 5 năm 2011.
Vốn sống, đó là một trong những tiêu chí hàng đầu trong công việc của người viết văn xuôi. Cho dù theo lối viết cổ điển hay đến xu hướng hiện đại ngày nay thì trong mỗi tác phẩm của nhà văn không thể không có nhân vật của riêng mình. Mỗi nhân vật phải mang trong mình hơi thở của cuộc sống. Nhân vật văn học ở quanh ta nhiều lắm nhưng người viết gom nhặt được những gì để tạo nên tác phẩm đó lại là cơ duyên và sự nhạy bén của mỗi người. Những mẩu gỗ vụn, những cành rào, cành rong hay đến những súc gỗ quý đều tạo nên một sản phẩm thông qua bàn tay chế tác của người thợ. Và trong muôn vàn loại “gỗ” cuộc đời thì người thợ cưa xẻ Lương Văn Chi đã chọn nhặt những “cành rào, cành rong” ở bờ ở bụi để làm nên tác phẩm cho riêng mình.
“Thỉnh thoảng bố lại thở dài, lẩm bẩm một mình: Mẹ kiếp! Kiểu này, rau úa cũng không có mà ăn!” Đó là cảnh đời của một gia đình sống trong cái vuông nhà trọ sau khi di dời đất ở quê để làm khu công nghiệp, bố đạp xích lô, mẹ gánh rau bán dạo nuôi hai đứa con nhỏ. (Cún và người). Một cô gái điếm phải làm tình với “Năm trăm thằng! Ông biết đếm chứ, năm trăm thằng! Gấp đôi đàn ông cái làng này!” mới ki cóp để dành được hai mươi triệu. (Kịch độc) “Thậm chí mấy lần khát nước, anh cũng không dám sang cái quán gốc cây bên kia đường,…., bởi trong ví của anh, ngoài giấy tờ ra, anh chỉ còn chẵn 10 nghìn để đổ xăng” Tài sản của người xe ôm chỉ có vậy. (Cuốc xe đêm). Từ một người thất nghiệp như Lương  thì nguồn thực phẩm chủ yếu của gia đình chỉ là “nhiều kí lô gam muối hạt ngô và những mớ rau muống” (Một ngày kiếm việc) Đến những người được dán mác công nhân nhà nước cũng phải để dành bộ quần áo bảo hộ mới lĩnh cho những lúc “Chả nhẽ tôi cứ phải nói như đục vào tai cô mới nhớ được hay sao? Để lúc hết gạo, chậm lương, mang ra vườn hoa kia, cô nhớ chưa?” (Hy râu) Hay một thanh niên to cao như Sơn trong Hiệp Sĩ, sức khoẻ loại A hoa, có bằng tú tài và lý lịch trơn tru cũng không xin nổi việc ở cơ quan nào để mỗi sáng ngủ dậy phải chờ mẹ phát chẩn vài nghìn ăn quà sáng.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

CẢM NHẬN THUYỀN NGHIÊNG

(NV Dương Thị Nhụn)

Vươn ra biển lớn - Khát vọng của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ và của cả quốc gia. Một trong những con thuyền đang vươn khơi xa, đang phải chơi vơi giữa phong ba bão táp cuộc đời có con thuyền của dòng họ Hoàng làng Đông Phong trong tiểu thuyết “Thuyền Nghiêng” của nhà văn Dương Thị Nhụn do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành tháng 10 năm 2011. Liệu con thuyền mang tên họ Hoàng ấy có vượt qua sóng gió để những thuyền viên trên đó đạt được mong ước, công thành danh toại, đáng mặt anh hào với đời?
Con thuyền họ Hoàng quy tụ từ thế hệ tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ như anh em nhà ông Tấn, ông Vấn … , đến thế hệ sinh ra trong những ngày Đất nước xây dựng và phát triển kinh tế như thằng Bằng anh, Bằng em, Tố …, có cả những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ, thậm chí cả linh hồn cụ tổ họ Hoàng cũng về tham gia vào chèo lái con thuyền. Mỗi thuyền viên một tính cách. Vậy con thuyền họ Hoàng ra khơi bằng định hướng nào? Ông Vấn là người sống với hoài niệm, cố dìu dắt con thuyền hướng theo dấu vết một thời máu lửa, hy sinh thân mình vì sự tồn vong của Dân tộc, hy sinh cho những điều cao cả mà ông đã trải qua. Ông Húng cũng là người đã đi qua cuộc chiến tranh chống Mỹ, nhưng ông là người có lý lịch cá nhân và tính cách nhập nhèm cho nên không thuyết phục được ai, không được ai tôn trọng mặc dù ông là người đạt được học hàm cao nhất trong dòng họ vào thời điểm này. Thằng Tố giầu nứt đố đổ vách, muốn hướng con thuyền bằng những đồng tiền không chính đáng. Liệu con thuyền có đi theo hướng chèo lái của bố con ông Hình sống phóng túng, chỉ mưu mô làm hại người khác. Thằng Bằng anh, Bằng em côn đồ. Trên con thuyền còn có thằng Vớ ngớ ngẩn và Hãn, người đàn bà “khát tình”… những con người hiền lành, sống chân tình.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

CON ĐƯỜNG HƯỚNG THIỆN CHO NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT “THUỶ SINH” CỦA NGUYỄN QUỐC HÙNG

(Thảm họa)

Đọc xong cuốn thiểu thuyết “Thuỷ sinh” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, tháng 10 năm 2011) tôi không khỏi băn khoăn, trong số những con người đang vật vã mưu sinh trên dòng sông Cấm thì đâu là con người lương thiện? Những con người sống nhờ dòng sông ngàu đục, đỏ như màu tôm luộc, họ cũng là một kiếp thuỷ sinh. Vậy đâu là ánh sáng hướng thiện cho cuộc đời của những con người này tác giả muốn đề cập tới?
 Những con người mưu sinh bằng nghề “gắng cào bùn cho nhanh để tìm những mẩu sắt vụn rơi xuống”, và “ngửa cả ngày cho bọn thuỷ thủ “đâm” tả tơi, thế mà khi về đi nhờ sang sông mà mẹ con nhà Cống cũng lấy hai chục” “Chẳng lẽ ngày nào cũng chấn tiền của công nhân” và còn cả tầng lớp người “Nó đã học được kỹ nghệ này ở trường đời, từ chính những kẻ như Luật là quan chức mà hám tiền hám gái mà ra”. Cực nhọc, khổ nhục, thậm chí phải đổ máu mới kiếm được “Mỗi chuyến tàu rời bến, moi móc lòng sông cũng kiếm đủ gạo ăn một tháng. Lần nào cũng hy vọng công nhân bốc xếp làm ẩu để rơi hàng xuống sông thật nhiều còn kiếm thêm chai rượu”. Triết lý cuộc đời của những con người vật vã mưu sinh này, “Tựu chung lại, tình và tiền hợp lại thành thứ đạo để con người tôn sùng và trút giận. Tiền càng nhiều, tình càng rộng thì con đường đạo càng thênh thang”. Với triết lý cuộc đời ấy, họ như một mũi tên đã rời cây cung bay về đích “Hãy nhanh chân đạt được mục đích đi, nếu không mình sẽ là người đến chậm” vì vậy “Tiền! Vì tiền mà chúng mày cắn xé nhau như chó. Chỉ một miếng sắt vài chục bạc mà hôm nọ thằng Cường “kễnh” suýt đâm chết thằng Vinh “vổ””

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN - NGƯỜI ĐÃ GIỚI THIỆU TÔI VÀO HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM





Vĩnh biệt Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, quê Hải Phòng, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ông là một trong những nhà văn Việt Nam bị tù vì viết văn; sau khi ra tù, ông tiếp tục sự nghiệp viết văn và cuốn tiểu thuyết "Chuyện kể năm 2000" là một cuốn sách nổi tiếng của ông; Cuốn sách nói về quãng thời gian ông bị giam tù, sau khi in, cuốn tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn đã bị thu hồi và nghiền làm bột giấy...
Chuyện kể năm 2000 không chỉ nổi tiếng bởi nội dung và cái bìa sách đầy ấn tượng do nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo vẽ...
Nguyễn Quốc Hùng xin có lời chia buồn với gia đình nhà văn Bùi Ngọc Tấn và xin đưa lại tin của bạn văn Trannhuong.com:
TN

Tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như "Chuyện kể năm 2000", "Biển và chim bói cá"...Ông bị trọng bệnh và đã ra đi về cõi vĩnh hằng hồi 6 giờ 15 phút ngày 18-12-2014 tại Hải Phòng. Hưởng thọ 81 tuổi.

Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934. Quê ông ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Bùi Ngọc Tấn có sáng tác in ở các nhà xuất bản: Văn học, Lao động, Thanh niên, Phổ thông… khi mới ngoài hai mươi tuổi.
Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội, viết với bút danh Tân Sắc.
Sau đó, năm 1959, ông trở về quê và thành biên tập viên báo Hải Phòng Kiến thiết. Để có thể nuôi gia đình 6 người, ông tập trung vào viết báo. Ông thân thiết với nhà văn Nguyên Hồng và Bí thư Thành ủy Hoàng Hữu Nhân, người quan tâm đến giới văn nghệ sĩ và đã giúp đỡ ông lúc khó khăn sau này.
Bùi Ngọc Tấn từng bị tập trung cải tạo 5 năm (1968-1973). Từ khi được xóa án, sau hai năm thất nghiệp, Bùi Ngọc Tấn được tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản Hoàng Hữu Nhân xếp vào làm nhân viên theo dõi thi đua khen thưởng ở Liên hiệp Xí nghiệp Đánh cá Hạ Long. Trong khoảng thời gian làm công việc này từ 1974 đến 1994, ông trở thành một "người ẩn dật" với văn chương, ngừng viết trong khoảng thời gian 20 năm này.
Ông trở lại với bạn đọc qua bài "Nguyên Hồng, thời đã mất" đăng trên tạp chí Cửa biển tại Hải Phòng năm 1993.


Cuộc đời văn nghiệp của mình, nhà văn Bùi Ngọc Tấn có một số tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng. Tiểu thuyết Biển và chim bói cá của ông  được trao tặng giải thưởng Henri Queffenlec tại Liên hoan Sách và biển được tổ chức vào tháng 8-2012 tại Pháp. Tác phẩm này xuất bản năm 2009, được viết từ những trải nghiệm trong 20 năm làm việc trong xí nghiệp thuỷ sản...
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn ký tặng cho người hâm mộ - Ảnh: Lam Điền
Trong nước, nhà văn Bùi Ngọc tấn đã nhận giải thưởng của Tạp chí Văn Nghệ, Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, Bộ Văn hoá, NXB Hội Nhà Văn, Giải Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng), Giải thưởng Hội Nhà Văn.
Những năm gần đây nhà văn Bùi Ngọc Tấn sống cùng vợ tại một căn nhà nhỏ trong khu tập thể trên đường Điện Biên Phủ, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Kể từ khi bệnh nặng, ông chuyển về sống cùng con trai trên đường Thiên Lôi. 

Các tác phẩm tiêu biểu của Bùi Ngọc Tấn:
Nhằm thẳng quân thù mà bắn
Thuyền trưởng, (truyện vừa, cuối thập niên 1970, ký tên Châu Hà)
Một thời để mất (hồi ký, 1995)
Một ngày dài đằng đẵng (tập truyện ngắn)
Những người rách việc (tập truyện ngắn, 1996)
Rừng xưa xanh lá (ký chân dung, 2004)
Kiếp chó (tập truyện ngắn, 2007)
Người chăn kiến (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn 2010, NXB Trẻ 2014)
Biển và chim bói cá (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn 2009, NXB Trẻ 2014)
Viết về bè bạn (Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn 2012, NXB Trẻ 2014)

NGHĨ SUY SAU KHI ĐỌC "DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP"

(Hoàng hôn trên sông Cấm)



                                                                                                          Ngọc Châu
                         (Hội viên Hội nhà văn HP)

DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP là cuốn tiểu thuyết, cũng có thể coi là cuốn sử biên niên về một miền quê và ḍòng họ của chính tác giả (nhà văn Nguyến Quốc Hùng, hội viên Hội Nhà Văn Hải Pḥòng). Câu chuyện dẫn chúng ta đi qua một thế kỉ - quá nhiều đau thương và biến động - của dân tộc Việt trong giai đoạn phải oằn oại một cách quật cường để tự giải phóng mình khỏi gông kìm của xã hội phong kiến và thực dân, đế quốc.
Cuốn truyện xoay quanh hai gia tộc có uy thế hơn cả trong một làng quê nghèo nàn, chiêm khê mùa thối. Cụ Cờ là một cựu Chánh tổng thương dân nhưng tính tình cương trực khảng khái nên nhanh bị mất chức nhưng bao giờ cũng có uy tín đối với trong làng ngoài xóm. Chính cụ và con trai là Tổng Cò đă tổ chức việc vớt gỗ từ rừng trôi về trong cơn lụt, để xây đình làng và khơi đào nhánh sông Vàng cho làng Trằm thoát khỏi cảnh ngập lụt trắng băng vào mùa mưa, lại cằn kiệt đến không có nước mà uống vào mùa khô hạn. Cụ Cờ đă trầm mình tuẫn tiết để ngăn cản cuộc đánh lộn giữa hai làng ven sông, nhờ vậy con sông Vàng mới được khai thông, mang lại lợi ích cho làng Trằm, cũng đóng luôn vai trò "dòng sông chở kiếp" đối với bao nhiêu con người có cuộc đời bám quanh dòng chảy của nhánh sông bé nhỏ này.
Đại diện cho gia tộc thứ hai là nhà Lí Ngao với con trai là Lí Ngang. Tham lam, ganh ghét, nham hiểm là đặc trưng nên bao giờ gia tộc này cũng có chuyện thù hằn hoặc đố kị với gia tộc cụ cố Cờ. Lí Ngang cố tình bày đặt mưu mô để cản trở hoặc phá đám những việc làm mang tính tốt lành của gia tộc kia, thậm chí còn tìm cơ hội để "gieo giống" vào cô cháu dâu lầm lỡ của cụ cố Cờ.
Dòng sông chở kiếp tiếp tục là nơi chứng kiến hoặc tham gia vào vận mệnh của những người dân làng Trằm khốn khó với những cảnh rừng mất, nhà mất, chợ tan, nhà tan kéo dài từ trước cách mạng tháng Tám, qua giai đoạn chín năm đánh Pháp cho đến khi toàn bộ quân đội thực dân Pháp phải rút khỏi Bắc Việt. Thế hệ tiếp theo với đại diện là Tổng Cò, Lí Ngà và con cháu của cả hai nhà tiếp tục hục hặc, tranh giành ngôi thứ, vật lộn mưu sinh, kẻ theo Pháp, người ủng hộ Việt Minh, sống và chết bên nhánh sông Vàng
Phần tiếp theo của cuốn truyện nói về những năm gian truân của anh bộ đội Sơn, con của Tổng Cò, cháu cụ cố Cờ. Theo Việt Minh đánh Pháp, bị phe Lí Ngà (con của Lí Ngang) chỉ điểm nên bị thương, bị bắt rồi bị tù. Từ Côn Đảo trở về chuyển ngành làm một cán bộ phó Phòng của sở Thương Nghiệp, lại phải ra ṭa vì có kẻ đổ tội làm cháy nhà xưởng để cố tình hãm hại, may mà sau thời gian ngắn ở trong tù đă được minh oan, trở về thăm lại làng Trằm.
Những trang cuối nói về tác giả cuốn sách, hậu duệ của cụ Cố Cờ, luôn tận tụy với nghề nghiệp và say mê với văn chương, xứng đáng với cụ nội là người đă có công xây ngôi đình cho làng Trằm và khai thông nhánh sông Vàng. Chính tác giả với con mắt của một văn nhân đã hình tượng hóa nhánh sông mà cụ và ông mình khai thông, thành dòng sông chở kiếp với bao nhiêu con người của làng quê ấy.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

SỰ RA ĐỜI CỦA CHI BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN ĐẦU TIÊN Ở CẢNG HẢI PHÒNG VÀ BÁC HỒ VỀ THĂM CẢNG HẢI PHÒNG


(Bác Hồ về thăm cảng Hải Phòng ngày 30/5/1957)

Câu hỎi 3: Anh (chị) hãy cho biết sự ra đời của chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Cảng Hải Phòng ?
Cảng Hải Phòng là đầu mối giao thông quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài. Nơi mà tin tức thế giới và trong nước sớm được truyền qua. Cảng lại là trạm giao thông liên lạc giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Đội ngũ công nhân Cảng thật sự là một trong những ''mảnh đất'' tốt để gieo hạt giống cách mạng.
Từ năm 1927 Tỉnh bộ ''Hội Việt Nam thanh niên cách mạng'' Hải Phòng đã cử ba hội viên vào Cảng hoạt động, trong đó có đồng chí Phúc, đồng chí Sinh. Chi bộ ''Hội Việt Nam thanh niên cách mạng '' và ''Công hội đỏ'' được tổ chức ở Cảng. Cuối năm 1928, thực hiện chủ trương ''vô sản hóa'', Tỉnh bộ Hải Phòng cử thêm 02 đồng chí nữa về Cảng là đồng chí Trần Công Thái (tức Huỳnh Bá Thượng) và đồng chí Nguyễn Bá Biên (tức Tư Già).
Tháng 5-1929, trong không khí rạo rực chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam, đồng chí Thái, đồng chí Biên, đồng chí Phúc và đồng chí Sinh đã họp lại thành một tổ lấy tên là “Xích Sắc”. Ít lâu sau, đồng chí Thái và đồng chí Sinh chuyển đi nơi khác.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN CẢNG HẢI PHÒNG THỜI KÌ CHƯA CÓ ĐẢNG

                                                  
                                          
Câu hỏi 1: Anh (Chị) hãy nêu quá trình hình thành và những hoạt động của đội ngũ Công nhân Cảng Hải Phòng thời kỳ chưa có Đảng ?
1. Quá trình hình thành và phát triển bến Cảng:
- Nhà cầm quyền Pháp đã nhận ngay ra khu vực Hải Phòng là một vị trí chiến lược và là đầu mối giao thông rất trọng yếu, vì vậy nhà cầm quyền Pháp muốn chiếm Hải Phòng từ tháng 1/1872. Ngày 15/3/1874 triều đình Huế và thực dân Pháp ký “Hiệp ước hoà bình về liên minh” gồm 22 điều khoản. Trong đó, theo hiệp ước, triều đình nhà Nguyễn dâng cho Pháp toàn bộ đất Hải Phòng và quyền kiểm soát bến Cảng.
 - Mục đích của thực dân Pháp là dùng bến Cảng để chuyển hàng hoá, của cải, khoáng sản... mà chúng cướp bóc được ở Việt Nam mang về nước, đồng thời dùng hải Cảng này để tiếp nhận quân đội, vũ khí từ các nước đế quốc sang đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương.
2. Quá trình thành hình và những đặc điểm của đội ngũ công nhân Cảng.
- Mầm mống đầu tiên của sự ra đời đội ngũ công nhân Cảng Hải Phòng là từ năm 1874, khi thực dân Pháp bắt đầu xây dựng Cảng. Khi bến Cảng được xây dựng, ở Việt Nam công nhân chưa thành hình với tư cách là một giai cấp.
- Năm 1876, thực dân Pháp cấp tốc làm một số cầu nổi bên bờ phải sông Cửa cấm, cách biển khoảng 40 km. Công trường bến Cảng đã thu hút những người nông dân cùng khổ ở các vùng xung quanh Hải Phòng và nhiều nơi khác đến bến Cảng để tìm kế sinh nhai... Đội ngũ công nhân Cảng dần dần thành hình từ đấy.
Như vậy, có thể nói đội ngũ công nhân Cảng Hải Phòng ra đời khá sớm so với sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam.

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

DÒNG SÔNG CHỞ KIẾP, CÂU CHUYỆN TRĂM NĂM VỀ NHỮNG KIẾP NGƯỜI

(Cầu cảng lúc hoàng hôn)

(Đọc Dòng sông chở kiếp, tiểu thuyết của Nguyễn Quốc Hùng,
NXB Hội Nhà văn, 2009)
                                                                           Lưu Văn khuê

Nguyễn Quốc Hùng là tác giả văn xuôi trẻ của Hải Phòng, cầm bút mới khoảng mười năm năm nay nhưng đã có bước tiến đáng kể với một số truyện ngắn công bố trên tạp chí Cửa Biển ( Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) và tuần báo Văn Nghệ cùng các tiểu thuyết Chuyến hàng mưa ( Giải thưởng ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, 2006) và Dòng sông chở kiếp vừa mới xuất bản.
Sống gắn bó với những người công nhân và cuộc sống thành thị nên Nguyễn Quốc Hùng đã có một số thành công ở những đề tài này. Vì vậy, không khỏi bất ngờ khi Dòng sông chở kiếp lại viết về nông thôn; không những thế, còn là một nông thôn có những quãng thời gian đã trở thành quá khứ xa mà chắc chắn tác giả chỉ được biết nhờ nghe kể và đọc sách vì với tuổi mình, anh không thể chứng kiến. Bên cạnh đó, thời gian được đề cập đến đâu có ngắn. Nhụ, một nhân vật trong tiểu thuyết, lúc xuất hiện còn là người phụ nữ 30 tuổi, đến trang cuối đã là bà lão 100 tuổi tròn! Nhân vật thì trải suốt bốn thế hệ. Tất cả, được trình bày một cách tường tận với những chi tiết sinh động. Phải am hiểu về nhiều mặt đồng thời khá vững tay nghề mới có thể dồn nén được chừng ấy thời gian, sự kiện và con người vào chỉ có 350 trang sách.
Đó là chuyện mâu thuẫn truyền đời giữa hai gia đình tại làng Trằm, một làng nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ. Đứng đầu hai gia đình và cũng là hai họ đều là những người có địa vị cao trong làng. Tuy nhiên, cái cách để có được vị trí ấy mỗi gia đình mỗi khác: Họ Nguyễn nhờ đạo đức, còn họ Vũ là do thủ đoạn.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

ĐỊNH MỆNH

(cùng họa sĩ Thọ Vân)

Có lần tôi hỏi ông về bút danh Thọ Vân. Ông không trả lời câu hỏi ấy mà nói tới định mệnh - Vân là mây, cái tên ấy như định mệnh mang ông lên tận tầng năm và chưa khi nào có ý định chuyển xuống thấp hơn.
Một ngày cuối thu, màu xám nhạt loang kín nền trời, gió heo may đầu mùa phơn phớt cọ vào má tê mát, không gian tĩnh lặng. Thời tiết này dễ cho người ta lâng châng buồn một tí, xào xạc chút suy tư, lý tưởng cho những ai thích phiêu du. Tôi cùng anh bạn (con trai ông) cặm cụi chuẩn bị bữa trưa. Ông về xua chúng tôi ra đường: “ăn uống muốn lúc nào cũng được, trời đẹp thế này đâu phải ngày nào cũng có. Hai thằng ngu si!” Lần đầu tiên tôi cùng ông đẵm mình vào thiên nhiên, bỏ cả bữa ăn trưa.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG

                                                                            (Sông Lô)
                                         
Đọc “Dòng sông chở kiếp” của Nguyễn Quốc Hùng:
“Nghiệt chướng” và “nghiệp chướng” trong cách thể hiện của nhà văn

Vũ Thúy Hồng

Nhà văn công nhân Nguyễn Quốc Hùng làm việc tại Cảng Hải Phòng. Với tay nghề lái cần trục chân đế 4/4 được đào tạo bài bản, và có thâm niên công tác 25 năm, anh hiện là giáo kiêm chức hướng dẫn thực hành về lái đế cho công nhân trẻ mới vào làm việc tại Cảng. Như một định mệnh không thể chối bỏ, Nguyễn Quốc Hùng dấn thân vào văn chương và viết khá đều tay. Vốn liếng của anh là 2 tập truyện ngắn và 2 cuốn tiểu thuyết. “Dòng sông chở kiếp” do NXB Hội Nhà văn ấn hành là cuốn tiểu thuyết thứ hai của anh gây được sự chú ý trong văn đàn cũng như với độc giả. Đặc biệt, những vấn đề xoay quanh các nhân vật chính của tiểu thuyết đã được làm “nóng” lên trong cuộc hội thảo về “Dòng sông chở kiếp” của Hội Nhà văn Hải Phòng. Trong bài viết của mình, tôi xin đề cập đến “nghiệt chướng” - tư tưởng chủ đạo của tiểu thuyết thông qua tuyến nhân vật chính của tiểu thuyết.
Bối cảnh của “Dòng sông chở kiếp” là một làng nhỏ vùng đồng bằng Bắc Bộ gắn với con sông Vàng. Mâu thuẫn này sinh truyền đời hàng thế kỷ giữa hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ - một đề tài tương đối phổ biến về nông thôn trong văn học Việt Nam. Mâu thuẫn ấy nảy sinh từ thời Pháp thuộc và vẫn còn tồn tại đâu đó trong  giai đoạn hiện nay. Bỏ qua một số hạn chế về tính xác thực trong các giai đoạn lịch sử hay cách diễn đạt về văn hóa, ngôn ngữ còn đôi chỗ không đồng nhất - “Dòng sông chở kiếp” đưa ra thông điệp về “nghiệt chướng” xuất phát từ “dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi”. Đứa con bất hợp pháp của chị đĩ Nhụ với lý Ngang đã sinh ra oan nghiệt. Thằng Sông là trưởng họ nhà chồng chị lại chính là đứa con của kẻ thù. Người mẹ muốn giữ kiếp làm người trong sạch cho con như liệu nó có sống như nguyện ước của người mẹ?

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

"CHUYẾN HÀNG MƯA" - TỰ TRUYỆN CỦA NHỮNG NGƯỜI CÔNG NHÂN CẢNG


(Bến Cảng)

Xuất thân từ công nhân cảng, Nguyễn Quốc Hùng đến với làng văn từ tốn và khiêm nhường như chính con người anh. Hiền lành, ít nói và nụ cười luôn thường trực trên khuôn mặt dạn dày sóng gió.
“Chuyến hàng mưa” là tiểu thuyết đầu tay của anh.
Người ta thường nghĩ người công nhân bến cảng là vất vả, cánh lưng cong như cánh buồm để quai vác hàng tạ hàng trên vai, hơi sức nữa đâu để lãng mạng, để thích thơ văn, song với Nguyễn Quốc Hùng thì khác. Anh tâm sự, nhiều khi phải giấu mình vào chỗ khuất nào đó để viết một ý tưởng thoảng qua hoặc ghi lại những điều mình quan sát được, nếu không mọi người nhìn thấy lại cho là “dở hơi”. Nguyễn Quốc Hùng ghi chép lại những sự việc đời thường, những sinh hoạt riêng tư trong cuộc sống của những người công nhân bốc vác để dựng lên một “Chuyến hàng mưa” như tự truyện của những người công nhân ấy.
Đúng như tựa đề của cuốn tiểu thuyết, xuyên suốt bẩy chương truyện là những cơn mưa kéo dài không dứt, những cơn mưa ào ạt, xối xả đáp xuống cuộc đời của những số phận người công nhân bốc vác trong một góc cảng Hải Phòng. Tâm điểm là nhân vật Tương xuất thân từ một anh nông dân ra thành phố. Những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống tập thể, những thăng trầm biến đổi trong công việc làm thay đổi con người Tương, biến một người nông dân ù lỳ trở thành con người đa đoan, tính toán và đôi khi lừa lọc, gian ngoan. Đan xen giữa cảnh thành thị là cảnh nông thôn, làng quê tưởng như yên bình nhưng cũng đầy sóng gió. ở đâu con người cũng lấy danh lợi để làm mục tiêu cho mình hướng tới. Cảnh vật lộn kiếm kế sinh nhai dưới những hầm hàng, cũng như chuyện kiếm một chân trong làng để rồi mưu lợi, “Chuyến hàng mưa” tái hiện gần như nguyên vẹn một giai đoạn biến động của xã hội. Những con người thật thà, thô kệch như Phiện “gù”, đa mưu, tính toán như Ngọc “chột”, lừa lọc như Đoan “khê”... cũng đều là những nhân vật trong cuốn phim tường thuật lại cảnh sống của những những người làm nghề bốc vác. Cuộc đời của họ gắn với những lô hàng, những con tầu và những người đàn bà mà xã hội đưa đẩy tới như Mong, Huệ “vịt”, Liên “khờ”...