Những ngày gần đây, dư luận (cả chính thức và mạng xã hội) đang là những chiếc máy khoan làm việc hết công suất hòng bóc tách những vỉa tầng của ngành giáo dục. Từ việc lớn như thay sách giáo khoa cho phù hợp. Việc này dây dưa tới công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại khiến cho mũi khoan chiều nào cũng gặp phải đá rắn, tóe lửa. Người này chứng minh học theo công nghệ là ưu việt, lập tức người khác thì cho rằng còn nhiều bất cập, gây khó cho học sinh. Rồi chuyện lớn nữa như những dự án hàng nghìn tỉ của ngành giáo dục không mang lại hiệu quả. Có không ít người tuyên bố dự án ấy chỉ hơn trăm tỉ sẽ chuyển biến được. Có thật không, tại sao bộ giáo dục lại không lên tiếng về việc này? Vụn vặt hơn là chuyện thu chi đầu năm học. Nhưng nhiều năm chuyện này trở thành tiêu điểm hot thì năm nay các “thợ mỏ” không đào bới được là bao. Chủ đề hot những ngày gần đây là chuyện ứng xử của giáo viên. Nào là cô giáo cho học sinh tát bạn “hội đồng”. Rồi cô giáo mầm non “treo cổ học sinh lên cửa sổ” (đó là status của một vài “thần phây”). Rồi vụ bắt thầy giáo đền quần cho nữ học sinh. Vv và vv… Mọi “tội lỗi” đều nhắm tới cái đích giáo viên.
Các cấp quản lí ngành giáo dục xử lí thế nào trong những sự vụ này? Họ đang ngủ gật. Và rồi, họ bỗng nghe thấy đám “thợ mỏ” reo lên khi đào ra một vỉa đạo đức của người làm nghề giáo. “Chúng tôi đã yêu cầu nhà trường làm báo cáo, giải trình tường tận vụ việc gửi về phòng, gửi về địa phương. Chúng tôi sẽ tìm hiểu rõ ràng vụ việc”, họ giật mình quăng ra một văn bản in sẵn như vậy. Thế là họ vô can. Hậu quả, giáo viên làm giáo viên chịu. Người nhẹ thì đình chỉ dạy mươi ngày, người nặng thì trở thành tội phạm tới mức truy tố, cơ quan pháp luật vào cuộc điều tra.
Các cấp quản lí còn phải lo tầm vĩ mô. Tức là tìm phương pháp dậy cho trẻ thành tài. Mọi kĩ thuật tích cực trong cách dạy học được phát kiến mới (hay dập khuôn nước ngoài) được triển khai. Ở Tiểu học nào là: Kĩ thuật nhóm đôi, kĩ thuật nhóm bốn, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật XYZ …. được áp dụng. Và những bài giảng điện tử bắt buộc phải triển khai. Vậy những bộ phận cấu thành nên những kĩ thuật ấy có đồng bộ. Sĩ số một lớp quá đông, điều kiện vật chất thiếu thốn thì triển khai thế nào. Ví như, dạy giáo án điện tử mà máy tính, màn hình chiếu nhà trường không trang bị. Giáo viên phải làm gì? Huy động xã hội hóa bằng cách vận động đóng góp của phụ huynh. Phải dùng kĩ thuật “răn đe”. “Lớp khác có lớp mình không có, con cái học kém đừng trách” Phụ huynh hoảng, đóng ngay. Kĩ thuật thu của giáo viên phải giỏi không thì sẽ phạm phải tội lạm thu. Dính đến tài chính, tội to. Các cấp quản lí một năm đôi lần thanh tra. Kĩ thuật “chống chế” của giáo viên nào cũng giỏi nên xếp loại nhà trường chỉ có từ khá trở lên. Đẹp mặt cả đôi đường. Có trường hợp, trong giờ dạy mà đoàn thanh tra dự, cô giáo gọi học sinh trả lời câu hỏi. Học sinh trả lời, thưa cô không phải câu hỏi của em, em không trả lời được. Kĩ thuật “chống chế” của giáo viên này bị lỗi. Chuyện nhỏ, rút kinh nghiệm. Ngày trường tiểu học còn tổ chức thi học sinh giỏi các cấp, thường giải thưởng cao tập trung cố định vào một trường điểm (nhất là thi cấp quận). Trường khác muốn có giải thưởng thì giáo viên phải có kĩ thuật “tình báo”. Tức là bằng mọi nghiệp vụ, điều tra nhóm học sinh giỏi trường ấy học gì thì cho học sinh trường mình học theo. Hiệu quả tức thì. Còn nhiều kĩ thuật khác nữa, khoan đào cả ngày không hết.
Những ngày này, giáo viên sợ phụ huynh học sinh như sợ cọp. Một trường hợp có thật. Hôm ấy, không phải ngày học, một học sinh nhà gần trường vào sân trường nô nghịch. Học sinh này có hành động quá hỗn hào với một vị phụ huynh vào trường đón con. Vị phụ huynh không kiềm chế được đã đánh học sinh này. Bảo vệ trường gọi điện cho cô chủ nhiệm và mẹ em học sinh. Cô chủ nhiệm mặc dù nhà xa nhưng cũng đến kịp thời đưa học sinh này đi bệnh viện. Trong khi đó, mẹ của em học sinh ở cách trường không xa nhưng vào tới bệnh viện thì bác sĩ đã sơ cứu xong. Em học sinh chỉ bị xây xước nhẹ nên được về nhà ngay, hôm sau vẫn đi học. Và cô giáo cùng ban giám hiệu cho rằng sự việc đã xong. Không xong. Hôm sau em học sinh nghỉ học không xin phép và mẹ em gọi điện cho ban giám hiệu trách mắng cô giáo chủ nhiệm và nhà trường vô trách nhiệm với học sinh và nhà trường đã để người ngoài vào trong trường đánh học sinh. Phụ huynh này đe, làm đơn tố cáo với cấp trên. Ngay lập tức nhà trường huy động tất cả các ban ngành đoàn thể đến hỏi thăm sức khỏe học sinh và xin lỗi gia đình. Cuối cùng trong buổi họp hội đồng các thầy cô thở dài nhẹ người, may quá nhà ấy chỉ dọa. Bây giờ, không ít các thầy cô ra kế sách, kệ chúng nó (học sinh) muốn làm gì thì làm, thành người hay không cũng chẳng liên quan gì tới mình. Kế sách này mà thực thi rộng rãi thì ít năm nữa lớp trẻ bây giờ sẽ trưởng thành ra sao, ngành giáo dục có nghĩ tới.
Dạy học, việc quan trọng nhất là dạy làm người. Tiêu chí ngành giáo dục đề ra là vậy. Nhưng thực hiện đến đâu? Đã có cuộc thi đánh giá mức độ truyền thụ của giáo viên và mức độ tiếp thu của học sinh về kiến thức làm người chưa? Những sự vụ trong những ngày qua lỗi tại đâu? Tại sao không có một buổi hội thảo tìm cho phải lẽ.
Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020
Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020
MỘ ĐÁ NGANG LƯNG TRỜI –SỰ KHỐC LIỆT KHÔNG DỪNG NƠI CHIẾN TUYẾN
Đặng Thị Thúy
Mộ đá ngang lưng trờilà cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 2018 của Nhà văn
Nguyễn Quốc Hùng. Cuốn sách được viết lên bằng chính ký ức của anh và đồng đội–
những người đã “từng có hơn ba năm nằm
hầm, nằm hang, chốt giữ đường biên giới với nhau”, cùng kề vai sát cánh bên
nhau để chiến đấu chống quân xâm lược, giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
trong cuộc chiến tranh biên giới tại mặt trận Vị Xuyên – Hà Giang hơn ba mươi năm trước.
Câu chuyệnđược mở đầu bằng chi tiết thực tại, khi tác giả thoáng bắt
gặp bóng dáng người bạn chiến đấu,thoắt hiện ra rồi lại thoắt mất hút trên hè
phố nườm nượp người lại qua. Hỏi thăm để tìm thì không ai biết. Không biết bởi
giữa bao bộn bề hối hả của cuộc mưu sinh này, chẳng ai có thời gian để mà quan
tâm đến một kẻ “trông như thằng nghiện”, dẫu có biện minh rằng anh ta là “lính chiến” thì cũng chẳng ai tin,bởi giữa
thời bình này, tuổi trẻ như thế ấy thì biết gì đến chiến tranh với chiến đấu mà
gọi là lính chiến. Cái chi tiết tìm người bạn chiến đấu (người mà sau này được đặt
tên là Hoàng “dở” trong truyện) đã làm cho người đọc bị kích thích trí tò mò ngay từ những dòng chữ đầu tiên. Và phải đến tận khi đọc
hết toàn bộ cuốn sách rồi, người ta mới hiểu rằng, đó hoặc là chi tiết không có
thật, hoặc là do tác giả bị ám ảnh quá sâu sắc từ ký ức khốc liệt của cuộc chiến
mà “nhìn gà hóa cuốc”.
Toàn bộ câu chuyện là sự hồi
tưởng. Sự hồi tưởng bắt đầu bằng tiếng nổ, tiếp diễn bằng tiếng nổ và kết thúc
cũng bằng tiếng nổ. Đầu tiên là loạt tiếng nổ chát chúa, dồn dập vang lên giữa
đêm tối mịt mùng khi chuyến xe tải quân chưa lên tới làng Ping. Bất ngờ đến nỗi
Huy còn không kịp nhận biết nó là tiếng gì, nó phát ra từ đâu. Nhưng Huy biết
chắc rằng chúng không phải là tiếng sấm rền của một trận bão biển, sự rung
chuyển không phải là những lắc lư chao đảo giữa các đợt sóng lừng mà anh từng
trải qua trong những tháng ngày đi tàu vượt đai dương. Từng loạt “tiếng nổ trồi
từ dưới lòng đất lên” cùng sự rung chuyển và đá bay rào rào mãi mới khiến Huy
kịp hiểu:đây là chiến trường của một cuộc chiến thực sự. Những tiếng nổ dày đặc
với tần suất, âm thanh khác nhau vang lên suốt chiều dài của câu chuyện và theo
diễn tiến của các trận đánh. Ròng rã ngày qua ngày, đêm nối đêm cùng đồng đội
quần thảo với giặc trên các điểm cao, Huy dần phân biệt tiếng nổ nào là của vũ
khí nào, nó phát ra từ đâu. Quen và nhạy đến mức, cả khi xuất ngũ về nhà rồi,
nghe tiếng nổ bất ngờ vang lên, Huy còn giật bắn, lao qua người bố và nhận biết
ngay đó là bộc phá. Những tiếng nổ trở thành nỗi ám ảnh không chỉ đối với nhân
vật trong truyện mà còn với cả người đọc. Bởi vì, cho đến tận cuối truyện, khi
thời gian đã trôi qua đến mấy chục năm rồi, Huy vẫn còn bị ám ảnh mãi. Đấy là
khi nghe tiếng nổ, không phải tiếng đạn pháo của trận chiến mà là tiếng nổ tưng
bừng của pháo hoa mừng ngày lễ, thì thay vì nó mang đến cho Huy cảm giác hân
hoan vui vẻ như bao người thì nó lại gợi nhớ trong anh ký ức về cuộc chiến.
Nólàm cho anh khóc, càng cố kìm nén thì nén thì nước mắt càng trào ra. Và nó
cũng khiến cho độc giả khi đọc đến đoạn đó cũng không khỏi cay mắt, nghẹn lòng.
Cuộc chiến được hồi tưởng trong
câu chuyện chính là cuộc chiến vệ quốc trên chiến trường Hà Giangnhững năm 1979
– 1984. Ấy là một cuộc chiến cực kỳ khốc liệt. Sự khốc liệt được miêu tả một
cách rõ nét qua từng trang viết. Nó cho ta thấy toàn cảnh của một chiến trường
với tầng tầng lớp lớp đạn nã, pháo vây. Chiến trường là những vách đá cheo leo
sắc nhọn và những trận chiến đấu ác liệt. Mục tiêu là giành lại các điểm cao.
Loạt người này xông lên, pháo dập ngã xuống, loạt khác lại xông lên. Khốc liệt
đến nỗi “Những thân hình của đồng đội bị quét đổ sập xuống. Một làn đạn như
chiếc cưa phạt đổ những thân cây”, vì thế mà “đại đội được bổ sung mười tám
lính Hải Phòng thì nay còn có bốn”. Vì thế mà “Ra đi một đại đội, trở về vẻn
vẹn còn có hơn một tiểu đội”. Khốc liệt đến nỗi những bữa ăn tranh thủ cũng bị
gián đoạn. Cả nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ người bạn gái yêu mà chưa kịp ngỏ lời
cũng bị gián đoạn bởi những loạt đạn pháo liên hồi. Những nhớ nhung ấy cũng chỉ
thoạt đến chớp nhoáng như để tìm sự cân bằng về tâm lý, để xua đi những ám ảnh
về sự chết chóc đang bủa vây:người thì bị đạn xé toác lồng ngực, người thì thân
xác bị đạn xé nát, người bị mảnh pháo phạt mất nửa mặt,có người hy sinh rồi mà
đồng đội chỉ còn tìm thấy một cánh tay, và có cả những người, sau loạt đạn pháo
thì không còn gì nữa. Máu chảy thấm xuống làm nhão cả đất. Sau những trận huyết
chiến, những người lính sống sót tìm kiếm đồng đội đã hy sinh của mình, nhưng
cả tuần “cũng chỉ mang về được một tử sỹ nguyên vẹn hình hài, còn đâu là mấy
túi ni lông chẳng biết thi thể của ai”.Họ đành chôn chung những người đó vào
một chỗ “Lính tráng với nhau cả, nằm chung hầm, chung hang, chung giường với
nhau quen rồi”.Nếu có ai chưa từng nghe, chưa từng biết về những tháng ngày
khốc liệt trên chiến trường Vị Xuyên năm ấy, thì câu chuyện này chính là
mộtcuốn phim chân thực giúp họ hiểu, mường tượng về nó một cách cụ thể và rõ
ràng.
Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019
NHỌC NHẰN CÕNG CHỮ Đọc tập thơ: Địu chữ qua Cổng Trời của Hoài Khánh, NXB Kim Đồng – 2019
Văn học cho thiếu nhi từ xưa đến nay vẫn là một bộ
phận không thể thiếu trong nền văn học của bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Với
trẻ em Việt Nam, những cái tên đã trở nên quen thuộcnhư Trần Đăng Khoa, Võ
Quảng, Phạm Hổ …,đó là những nhà thơdành nhiều tâm huyết sáng tác cho lứa tuổi
thiếu nhibằng những vần thơ ngộ nghĩnh, các định nghĩa về sự vật hiện tượng
xung quanh đáng yêu. Trong dòng chảy văn học này còn không ít những nhà thơ
khát vọng đến cháy lòng muốn làm bạn với trẻ thơ thông qua tác phẩm của mình
như Phạm Đình Ân, Vũ Duy Chu, Thanh Hào … Và trong số đó, nhà thơ Hoài Khánh
cần phải nhắc tới là một trong những cây bút kiên định con đường thơ dành cho
thiếu nhi.Đến nay, anh đã là tác giả của 5 tập thơ: BÉ KIM GIÂY- Nhà xuất bản Hải Phòng năm 1991- TIA
NẮNG XANH- Nhà xuất bản Hải Phòng năm
1996 - TRĂNG TREO GIỮA NHÀ - Nhà xuất bản
Hội Nhà văn năm 2004 - DẮT BIỂN LÊN TRỜI - Nhà xuất bản Kim Đồng năm 2012, tái bản năm 2015 và mới nhất là tập
thơ - ĐỊU CHỮ QUA CỔNG TRỜI - Nhà xuất
bản Kim Đồng năm 2019 .
Với tập thơ DẮT BIỂN LÊN TRỜI thì thế giới trẻ thơ của
Hoài Khánh là những bước nhẩy chân sáo trên con đường làng hay chung chiêng
trên con sóng cùng dắt biển vào lớp học.
Từ làng chài vào lớp
Đường nằm trong khoang thuyền
Bầy trẻ thơ đi học
Ngồi trên sóng chơi vơi
(Đường ở đảo)
Tới tập thơ ĐỊU CHỮ QUA CỔNG TRỜI đứa trẻ với dáng vẻ
suy tư hơn. Nó ngồi chống tay vào cằm bên ô cửa đá và ngắm nhìn thế giới qua
con mắt của mình. Nó ngắm nhìn đám bạn váy
áo xập xòa/Gọi nhau địu chữ vượt qua cổng trời. Nó ngắm nhìnÔng mặt trời khó nhọc/ Đang leo dốc đằng xa,
để rồi khám phá raVẫn có bao điều lạ / Từ
sách hồng bước ra.Nhưng dù đứa trẻ ngắm nhìndưới hình thức nào thì thế giới
qua mắt chúng vẫn là thế giới riêng dành chotrẻ thơ.
Như Tolstoi nói, văn chương cho trẻ em phải là ngày
hội của các tư tưởng. Tư tưởng nhưng phải vui như hội. Với tập ĐỊU CHỮ QUA CỔNG
TRỜI, nhà thơ dẫn các em nhỏ đi qua các khung trời cổ tích, thỏa thích ngắm
nhìn, khám phá cảnh đẹp thiên nhiên và con người. Xuất phát từ miền địa đầu Tổ
Quốc có con đường lên tới cổng trời, vùng đất có cao nguyên đá Đồng Văn hùng
vĩ, bọn trẻ nhìn thấy Ai đến cổng trời mà
xem/ Thăm thẳm chỗ nào cũng đánhưng ngướcnhìn lên những “Ông núi đá khù khì” bọn trẻ phát hiện
raVầng trăng cao nguyên lạ quá/ Ngồi trên
mỏm đá tai mèo.(Đêm phố cổ Đồng Văn),
tớinhững bản Mường màđàn “trâu cõng chiều
về bản” . Khi qua thác Bản Giốc bọn trẻ trầm tưgiữaBốn bề xanh tĩnh lặng / Thác đổ như ngựa lồng. Đi qua vùng núi Tam
Đảocó “Cả ba ngọn núi/ Lụ khụ lì khì”Dưới
con mắt của nhà thơ cũng là con mắt trẻ thơ, con suối, nương ngô, ngọn núi bỗng
bất ngờ chuyển mình trở thành người bạn thân thương, gần gũi.
Suối thung
tha thung thăng
Khiến nương
ngô thao thức
Cụ núi chừng
rạo rực
Nhẩm hát lời
lá xanh
(Trăng núi)
Thứ Hai, 11 tháng 11, 2019
MỘ ĐÁ NGANG LƯNG TRỜI – SỰ KHỐC LIỆT KHÔNG DỪNG NƠI CHIẾN TUYẾN - Đặng Thị Thúy
Mộ đá ngang lưng trời là cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 2018 của Nhà văn
Nguyễn Quốc Hùng. Cuốn sách được viết lên bằng chính ký ức của anh và đồng đội–
những người đã “từng có hơn ba năm nằm
hầm, nằm hang, chốt giữ đường biên giới với nhau”, cùng kề vai sát cánh bên
nhau để chiến đấu chống quân xâm lược, giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
trong cuộc chiến tranh biên giới tại mặt trận Vị Xuyên – Hà Giang hơn ba mươi năm trước.
Câu chuyệnđược mở đầu bằng chi tiết thực tại, khi tác giả thoáng bắt
gặp bóng dáng người bạn chiến đấu,thoắt hiện ra rồi lại thoắt mất hút trên hè
phố nườm nượp người lại qua. Hỏi thăm để tìm thì không ai biết. Không biết bởi
giữa bao bộn bề hối hả của cuộc mưu sinh này, chẳng ai có thời gian để mà quan
tâm đến một kẻ “trông như thằng nghiện”, dẫu có biện minh rằng anh ta là “lính chiến” thì cũng chẳng ai tin,bởi giữa
thời bình này, tuổi trẻ như thế ấy thì biết gì đến chiến tranh với chiến đấu mà
gọi là lính chiến. Cái chi tiết tìm người bạn chiến đấu (người mà sau này được đặt
tên là Hoàng “dở” trong truyện) đã làm cho người đọc bị kích thích trí tò mò ngay từ những dòng chữ đầu tiên. Và phải đến tận khi đọc hết toàn bộ cuốn sách rồi, người
ta mới hiểu rằng, đó hoặc là chi tiết không có thật, hoặc là do tác giả bị ám ảnh quá sâu sắc từ ký ức khốc liệt của cuộc chiến mà “nhìn gà hóa cuốc”.
Toàn bộ câu chuyện là sự hồi tưởng. Sự hồi tưởng bắt đầu bằng tiếng nổ,
tiếp diễn bằng tiếng nổ và kết thúc cũng bằng tiếng nổ. Đầu tiên là loạt tiếng
nổ chát chúa, dồn dập vang lên giữa đêm tối mịt mùng khi chuyến xe tải quân chưa
lên tới làng Ping. Bất ngờ đến nỗi Huy còn không kịp nhận biết nó là tiếng gì,
nó phát ra từ đâu. Nhưng Huy biết chắc rằng chúng không phải là tiếng sấm rền
của một trận bão biển, sự rung chuyển không phải là những lắc lư chao đảo giữa
các đợt sóng lừng mà anh từng trải qua trong những tháng ngày đi tàu vượt đai dương. Từng loạt
“tiếng nổ trồi từ dưới lòng đất lên” cùng sự rung chuyển và đá bay rào rào mãi
mới khiến Huy kịp hiểu:đây là chiến trường của một cuộc chiến thực sự. Những tiếng nổ dày đặc với tần suất, âm thanh khác
nhau vang lên suốt chiều dài của câu chuyện và theo diễn tiến của các trận
đánh. Ròng rã ngày qua ngày, đêm nối đêm cùng đồng đội quần thảo với giặc trên
các điểm cao, Huy dần phân biệt tiếng nổ nào là của vũ khí nào, nó phát ra từ đâu.
Quen và nhạy đến mức, cả khi xuất ngũ về nhà rồi, nghe tiếng nổ bất ngờ vang
lên, Huy còn giật bắn, lao qua người bố và nhận biết ngay đó là bộc phá. Những
tiếng nổ trở thành nỗi ám ảnh không chỉ đối với nhân vật trong truyện mà còn
với cả người đọc. Bởi vì, cho đến tận cuối truyện, khi thời gian đã trôi qua
đến mấy chục năm rồi, Huy vẫn còn bị ám ảnh mãi. Đấy là khi nghe tiếng nổ, không phải tiếng đạn pháo
của trận chiến mà là tiếng nổ tưng bừng của pháo hoa mừng ngày lễ, thì thay vì nó mang đến cho Huy cảm
giác hân hoan vui vẻ như bao người thì nó lại gợi nhớ trong anh ký ức về cuộc
chiến. Nólàm cho anh khóc, càng cố kìm nén thì nén thì nước mắt càng trào ra.
Và nó cũng khiến cho độc giả khi đọc đến đoạn đó cũng không khỏi cay mắt, nghẹn
lòng.
Cuộc chiến được hồi tưởng trong câu chuyện chính là cuộc chiến vệ quốc
trên chiến trường Hà Giangnhững năm 1979 – 1984. Ấy là một cuộc chiến cực kỳ
khốc liệt. Sự
khốc liệt được miêu tả một cách rõ nét
qua từng trang viết. Nó cho ta thấy toàn cảnh của một chiến trường với tầng tầng lớp lớp đạn
nã, pháo vây. Chiến trường là những vách
đá cheo leo sắc nhọn và những trận chiến đấu ác liệt. Mục tiêu là giành lại các
điểm cao. Loạt người này xông lên, pháo dập ngã xuống, loạt khác lại xông lên. Khốc liệt đến nỗi “Những thân hình của đồng đội bị quét đổ sập xuống.
Một làn đạn như chiếc cưa phạt đổ những thân cây”, vì thế mà “đại đội được bổ sung
mười tám lính Hải Phòng thì nay còn có bốn”.
Vì thế mà “Ra đi một đại đội, trở về vẻn vẹn còn có hơn một tiểu đội”. Khốc liệt đến nỗi những
bữa ăn tranh thủ cũng bị gián đoạn. Cả nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ người bạn gái yêu mà
chưa kịp ngỏ lời cũng bị gián đoạn bởi những loạt đạn pháo liên hồi. Những
nhớ nhung ấy cũng chỉ thoạt đến chớp nhoáng như để tìm sự cân bằng về tâm lý,
để xua đi những ám ảnh về sự chết chóc đang bủa vây:người thì bị đạn xé toác
lồng ngực, người thì thân xác bị đạn xé nát, người bị mảnh pháo phạt mất nửa
mặt,có người hy sinh rồi mà đồng đội chỉ còn tìm thấy một cánh tay, và có cả
những người, sau loạt đạn pháo thì không còn gì nữa. Máu chảy thấm xuống làm
nhão cả đất. Sau những trận huyết chiến, những người lính sống sót tìm kiếm
đồng đội đã hy sinh của mình, nhưng cả tuần “cũng chỉ mang về được một tử sỹ
nguyên vẹn hình hài, còn đâu là mấy túi ni lông chẳng biết thi thể của ai”.Họ
đành chôn chung những người đó vào một chỗ “Lính tráng với nhau cả, nằm chung
hầm, chung hang, chung giường với nhau quen rồi”.Nếu có ai chưa từng nghe, chưa
từng biết về những tháng ngày khốc liệt trên chiến trường Vị Xuyên năm ấy, thì câu
chuyện này chính là mộtcuốn phim chân thực giúp họ hiểu, mường tượng về nó một
cách cụ thể và rõ ràng.
Tôi thích cách miêu tả và khắc họa nhân vật của Nguyễn Quốc Hùng. Thông
qua việc miêu tả nhân vật chủ yếu qua hành động, khai thác diễn biến tâm lý của
nhân vật trong từng tình huống cụ thể và theo diễn tiến ác liệt của cuộc chiến,
anh đã lần lượt để người đọc tiếp cận với các nhân vật và hiểu cuộc đời của họ
một cách tự nhiên nhất. Hoàng “dở” là một người vốn có tiền sử bệnh tâm thần,
tính nhát, sợ manhưng vẫn bị bố và cán bộ phường bắt phải đi nghĩa vụ quân sự.
Lúc mới lên chiến trường, lúc nào cũng bám chặt Huy “như đứa trẻ sợ lạc mẹ khi
đến một nơi xa lạ, nguy hiểm”. Thế rồi, những trận đánh khiến Hoàng dần khôn
ngoan, nhanh nhẹn và biến anh thành một người lính anh dũng, can trường. May
mắn trở về từ cuộc chiến, trước khi rời trận địa, Hoàng đã quỳ xuống vái tám
mươi tư vái từ biệt những đồng đội cùng trung đoàn với mình, những người đã
vĩnh viễn nằm lại nơi ấy.
Huy –nhân vật chính của truyện-
được tác giả khai thác và miêu tả qua diễn biến tâm lý rõ nét nhất. Huy
cũng như những chàng trai Hải Phòng khác, nhập ngũ với mục đích là thực hiện
nghĩa vụ quân sự của một thanh niên giữa thời bình, rèn luyện trong quân ngũ 3
năm rồi quay về tiếp tục làm thủy thủ hoặc làm công nhân. Nhưng sau thời gian
huấn luyện, anh cùng mọi người mới biết là Hà Giang đang có biến và họ được
lệnh điều động lên chiến tuyến. Đến lúc ấy, họ mới biết mình sắp trực tiếp tham
gia vàonhững trận đánh ác liệt mà những chàng trai ra đi từ một thành phố đang
yên bình không bao giờ ngờ tới. Huy sợ chiến tranh,
ngay từ lúc biết tin này, Huy đã hoang mang, có ý định đào ngũ. Một người có
thân thế như anh, có đào ngũ cũng không sao vì đã có người lo cho êm thấm. Nhưng Huy đã không quay lại. Lý do để anh không quay lại lúc
đầu chỉ đơn giản bởi sỹ diện của một thằng đàn ông: “về
bây giờ người ta cười cho”. Sau đó, anh
thêm một lý dođể không quay lại làvì tò mò, vì muốn chứng kiến tận mắt
cuộc chiến trên kia xem có giống như miêu tả trong tiểu thuyết. Nhưng càng tiến sâu vào trận địa, Huy càng bị cuốn vào
từng trận đánh. Trực tiếp đối mặt với kẻ thù, đối mặt từng giây với cái chết
cận kề, động lực thúc giục Huy chiến đấu chính là bản năng sinh tồn của con
người “phải tiến để giành giật lấy sự sống còn. Quay lại là chết”. Rồi Huy
chứng kiến sự lần lượt hy sinh của rất nhiều đồng đội, lúc này, điều khiến anh
không cho phép mình quay lại chính là tình yêu thương, sự gắn bó và trách nhiệm
với đồng đội của mình. Trải qua những cung bậc cảm xúc khác nhau: từ sợ hãi,
đau đớn, phẫn nộ đến căm thù, để rồi cuối cùng, Huy xông lên chiến đấu quyết
liệt, can trường với quân xâm lược bằng tất cả sức mạnh có được từ sự căm thù
chúng, bằng danh dự của người lính và lòng yêu nước,tự tôn dân tộc của mình.
“Mặt đối mặt với kẻ thù, chính là lúc ý thức dân tộc của con người phát tiết ra
mạnh nhất”, đấy chính là sự lý giải của Huy trước hành động quyết tử của
Cường:ôm bộc phá đặt tận nơi để phá tan lá cờ mà tên giặc quyết tử xông lên cắm
trên vách đá, “lá cờ như một mũi dao nhuốm máu xiên vào bầu trời xám”. Và cũng
chính ý thức dân tộc đã thôi thúcHuy và những đồng đội của mình chiến đấu anh
dũng, “sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng với quyết tâm, một tấc đất
thiêng liêng của Tổ quốc cũng không thể để mất”. Huy đã cùng đồng đội của mình
sống trọn với lời thề “sống bám đá, chết bám đá thành bất tử”. Có thể nói, tính
cách và những diễn biến tâm lý của nhân vật Huy đã được tác giả xây dựng mang
những nét đặc trưng tiêu biểu của những chàng trai Hải Phòng và những người
lính của cuộc chiến tranh biên giới trong những năm tháng ấy.
Thứ Ba, 22 tháng 10, 2019
Báo Hải Phòng (26-7-2019) TÔI CỐ GẮNG ĐỂ CÓ NÉN NHANG THƠM TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI
1- Được biết anh vừa trở về từ chuyến thăm chiến
trường xưa và tri ân đồng đội tại mặt trận Vị Xuyên. Đây cũng là bối cảnh chính
để anh sáng tác nên tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời”. Cảm xúc của anh giờ
này như thế nào?
- Được trở lại thăm chiến trường xưa, được thắp một
nén nhang trên mộ những đồng đội đã quy tập và những nén nhang lên khe đá cho
những đồng đội còn nằm đâu đó trên các triền núi, khe sâu không chỉ riêng tôi
mà với tất cả những ai quan tâm tới những người anh hùng đã ngã xuống vì sự
toàn vẹn của Tổ Quốc bao giờ cũng xúc động. Trong ngày giỗ trận năm nay, những
người lính Vị Xuyên năm xưa được nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu
nhân về tham dự càng khiến chúng tôi xúc động hơn vì sự hy sinh của chúng tôi
ngày càng được nhà nước quan tâm hơn.
2- Trong tiểu thuyết của mình, anh nhắc nhiều tới
những đồng đội hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt năm xưa. Điều đặc biệt, anh
chính là một trong những người lính trực tiếp có mặt trên chiến trường đó. Anh
có thể chia sẻ quá trình sáng tác “Mộ đá ngang lưng trời”?
- Trong tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” tôi có
giải thích vì sao, cuộc chiến đã kết thúc hơn ba mươi năm tôi mới viết được về
chính mình, về những người đồng đội của tôi “Cuộc chiến tranh nào chẳng khốc liệt, chẳng bắn súng ném lựu đạn, chẳng
gian khổ hy sinh. Viết cuộc chiến của mình không khéo người đọc lại nghĩ mình
viết về đại chiến thế giới lần thứ hai.”
“Có thể từ
chuyện bọn người đãi vàng này xây dựng nên một cốt truyện hấp dẫn, ma quái. Xu
hướng văn chương bây giờ phần nhiều là thể hiện câu chuyện dưới những hình ảnh
ma mị, quái đản hoặc về tâm linh, nhất là những cuốn viết về chiến tranh. Huy
đã đọc những truyện như vậy viết về chính cuộc chiến Huy tham gia. Có hay, có
hấp dẫn, có tính sáng tạo. Nhưng tác giả là người ngoài cuộc, còn Huy là người
trực tiếp đổ xương đổ máu xuống mảnh đất biên cương này, thấy mình có tội nếu
viết theo xu hướng ấy.”
Tôi đi tìm cái riêng của cuộc chiến tôi tham gia. Đó
là, những người lính ngã xuống trong chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc
chiến tranh thống nhất đất nước là vì lý tưởng cách mạng, còn chúng tôi, những
người lính bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ Quốc đã vì danh dự của dân tộc
mà xông lên. Và thời gian cũng khiến cho cái “cô đơn” của người trải qua chiến
trận thấm sâu hơn vào huyết quản của mình.
Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019
TRỞ LẠI VỊ XUYÊN 2019
1- Được biết anh vừa trở về từ chuyến thăm chiến
trường xưa và tri ân đồng đội tại mặt trận Vị Xuyên. Đây cũng là bối cảnh chính
để anh sáng tác nên tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời”. Cảm xúc của anh giờ
này như thế nào?
- Được trở lại thăm chiến trường xưa, được thắp một
nén nhang trên mộ những đồng đội đã quy tập và những nén nhang lên khe đá cho
những đồng đội còn nằm đâu đó trên các triền núi, khe sâu không chỉ riêng tôi
mà với tất cả những ai quan tâm tới những người anh hùng đã ngã xuống vì sự
toàn vẹn của Tổ Quốc bao giờ cũng xúc động. Trong ngày giỗ trận năm nay, những
người lính Vị Xuyên năm xưa được nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu
nhân về tham dự càng khiến chúng tôi xúc động hơn vì sự hy sinh của chúng tôi
ngày càng được nhà nước quan tâm hơn.
2- Trong tiểu thuyết của mình, anh nhắc nhiều tới
những đồng đội hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt năm xưa. Điều đặc biệt, anh
chính là một trong những người lính trực tiếp có mặt trên chiến trường đó. Anh
có thể chia sẻ quá trình sáng tác “Mộ đá ngang lưng trời”?
- Trong tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” tôi có
giải thích vì sao, cuộc chiến đã kết thúc hơn ba mươi năm tôi mới viết được về
chính mình, về những người đồng đội của tôi “Cuộc chiến tranh nào chẳng khốc liệt, chẳng bắn súng ném lựu đạn, chẳng
gian khổ hy sinh. Viết cuộc chiến của mình không khéo người đọc lại nghĩ mình
viết về đại chiến thế giới lần thứ hai.”
“Có thể từ
chuyện bọn người đãi vàng này xây dựng nên một cốt truyện hấp dẫn, ma quái. Xu
hướng văn chương bây giờ phần nhiều là thể hiện câu chuyện dưới những hình ảnh
ma mị, quái đản hoặc về tâm linh, nhất là những cuốn viết về chiến tranh. Huy
đã đọc những truyện như vậy viết về chính cuộc chiến Huy tham gia. Có hay, có
hấp dẫn, có tính sáng tạo. Nhưng tác giả là người ngoài cuộc, còn Huy là người
trực tiếp đổ xương đổ máu xuống mảnh đất biên cương này, thấy mình có tội nếu
viết theo xu hướng ấy.”
Tôi đi tìm cái riêng của cuộc chiến tôi tham gia. Đó
là, những người lính ngã xuống trong chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc
chiến tranh thống nhất đất nước là vì lý tưởng cách mạng, còn chúng tôi, những
người lính bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ Quốc đã vì danh dự của dân tộc
mà xông lên. Và thời gian cũng khiến cho cái “cô đơn” của người trải qua chiến
trận thấm sâu hơn vào huyết quản của mình.
3- Không ít nhà văn chưa từng có mặt trong các cuộc
chiến cũng lựa chọn đề tài về chiến tranh và những tuyến nhân vật là người
lính, thương binh, liệt sĩ. Cảm nhận của anh về những sáng tác đó? Việc lựa
chọn đề tài mà mình chưa trải qua kinh nghiệm có phải là lựa chọn khó khăn với
những nhà văn?
- Khó khăn hay không là do tâm huyết của nhà văn với
đề tài mình theo đuổi. Tác phẩm có hay hay không là do tài năng của nhà văn. Ví
dụ, Nguyễn Danh Dũng là một tác giả còn trẻ, chưa từng tham gia quân đội nhưng
với truyện ngắn “Bóng anh hùng” viết về đề tài người lính khiến tôi xúc động.
Với tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” của tôi, bạn đọc đánh giá như thế nào
tôi cũng không làm cuộc khảo sát để tìm hiểu, chỉ biết rằng mình đã làm hết sức
có thể để có một nén nhang thơm thắp cho đồng đội mình. Với những người trong
cuộc, những người trực tiếp tham gia Mặt trận Vị Xuyên năm xưa đã vui mừng đón
nhận tiểu thuyết và coi tôi như là một người đại diện nói hộ tấm lòng của họ.
Có một vài cuộc tranh luận sôi nổi, vị trí ấy trong tiểu thuyết là ở chỗ này,
chỗ kia, nhân vật này là ai. Có người làm ban thờ quãng đời lính của mình và
trang trọng đặt cuốn tiểu thuyết của tôi trên đó xem như có linh hồn đồng đội
mình.
4- Còn với những sáng tác về người lính, thương binh –
liệt sĩ của các nhà văn Hải Phòng thì sao? Theo như chúng tôi được biết, có
những nhà văn, nhà thơ Hải Phòng vẫn cần mẫn khai thác đề tài về người lính, về
các cuộc kháng chiến. Anh có cảm nhận gì về những sáng tác ấy?
- Tác phẩm thực sự viết về người lính, thương binh –
liệt sĩ của các nhà văn Hải Phòng ở thời điểm hiện tại không nhiều. Nhà văn
Hoàng Thiềng cũng đã từng là người lính trải qua chiến tranh và ông cũng đã có
một vài tác phẩm về đề tài này.
5- Nhiều người nhận định rằng, mảng đề tài về thương
binh, liệt sĩ và những cựu chiến binh không chỉ khó thể hiện mà không còn gần
gũi với bạn đọc trong giai đoạn hiện nay. Ý kiến cá nhân anh với vai trò một
người cầm bút? Người sáng tác, nhất là những cây bút trẻ có nên lựa chọn đề tài
này?
- Với cá nhân tôi, một người đã biết thế nào là khốc
liệt của chiến tranh, biết thế nào là tình cảm sâu nặng của người lính may mắn
thoát được lưỡi hái tử thần cũng rất mong lớp trẻ hiểu mình, đồng cảm với mình,
cùng nói hộ mình bằng các tác phẩm văn học như nhà văn Nguyễn Bình Phương, nhà
văn Nguyễn Đình Tú và Nguyễn Danh Dũng. Nhưng để có nhiều tác giả hơn nữa quan
tâm tới đề tài này là một sự vượt khó vô cùng của cả xã hội chứ không riêng gì
một mình Hội Nhà văn có thể làm được.
6- Nếu để đưa ra lời khuyên với công chúng yêu văn
học, riêng với những sáng tác về thương binh, liệt sĩ và người lính, anh sẽ nói
gì?
- Những tác phẩm viết về người lính qua các thời kỳ
chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, công chúng đã rất quan tâm đón đọc và đánh
giá cao những tác thời kì ấy như tiểu thuyết “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi,
tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu …. Còn hiện nay, không
chỉ có tác phẩm viết về người lính mà cả những đề tài khác nữa, lượng người đọc
không nhiều, công chúng cũng không còn quan tâm tới văn học như trước đây. Tiên
trách kỉ, hậu trách nhân, có lẽ những nhà văn của chúng ta chưa có tác phẩm hay
và công tác quảng bá văn học chưa được quan tâm như các loại hình nghệ thuật
khác.
Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019
SÔNG LÔ THÁNG BẨY (Tản văn)
Năm nào cũng thế, vào dịp tháng
bẩy, bên cạnh dòng sông Lô có thêm một “dòng sông” mang sắc xanh áo lính chảy
ngược lại từ dưới xuôi lên phía Hà Giang. Đó là “dòng sông” tạo bởi những cựu
chiến binh đã tham gia mặt trận Vị Xuyên những năm 1984 – 1989 cùng nhau trở về
miền kí ức, trở về thắp một nén nhang cho đồng đội, những người ngã xuống giữ
gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc.
Sông Lô bây giờ không cuồn
cuộn sắc đỏ phù sa như những năm tôi là người chiến sĩ giữ chốt nơi đây. Ngày
ấy, đằm mình dưới dòng Lô lên là cả thân mình đỏ rực, lấp lánh hạt phù sa phản
chiếu ánh mặt trời. Sông Lô bây giờ không mênh mông, chiều sâu không bí hiểm giống
như hơn ba mươi năm trước. Một vài nhà hàng bên bờ sông bây giờ đang nằm trên
dòng chảy ngày xưa.
Bên bờ sông Lô bây giờ
không còn hàng cây gạo thẳng tắp, trang nghiêm như người lính đứng canh cho
những ngôi mộ liệt sĩ trên những triền đồi được bình yên trong tiếng pháo ì ầm
vọng về từ hướng đường biên.
Đâu rồi hiệu sách nhân dân
ngày xưa, nơi tôi thường xuyên lui tới trong những ngày ở cứ, ngay đầu ngã tư
Nguyễn Trãi – Trần Hưng Đạo, điểm đầu của con đường lên chốt. Lần nào ở hiệu
sách ra, tôi cũng tới đứng trên cầu Yên Biên nhìn hàng tre bên bờ sông Lô và
đắm trong nỗi nhớ nhà. Những cuốn sách tôi mua ngày ấy còn đến bây giờ.
Đâu rồi cửa hàng tuyến lửa,
nơi tôi cùng thằng Thuấn quê Nghệ Tĩnh vào mua hai mươi đồng bánh rán khiến các
chị mậu dịch viên ngạc nhiên, hai anh ăn hết từng đây á. Không tiêu hết tiền sợ
ngày mai không được tiêu nữa, có no cũng phải cố, sợ không có ngày xuống để
được ăn bánh rán.
Căn nhà nhỏ của bưu điện Hà
Giang ngày xưa thì tuyệt nhiên không thể nhận ra ở vị trí nào. Nơi đó, tôi đã
gửi không ít những bức thư không dán tem, thay vào đó là dòng chữ trên phong bì
“điều kiện lính chốt không có tem, nhờ bưu điện chuyển dùm”. Những bức thư là
sợi dây tình cảm của người lính chốt với người thân đã được bưu điện Hà Giang
kết nối đều đặn.
Con đường lên biên bây giờ
rộng thênh. Tôi tìm tiếng sông Lô rì rào ngày xưa mỗi khi qua đây đều nghe thấy.
Bây giờ chỉ thấy tiếng gió ào ào bên ô cửa xe.
Ngã ba Cửa Tử đây, Thung
lũng gọi hồn kia. 812 cùng Coóc Nghè lẩn sau sương mù. Cầu sập, hang Dơi, hang
Làng lò không giống ngày xưa. Không còn bầm dập, tan hoang vì cối pháo cày xới.
Đôi chân thong thả, lần
tìm. Vị trí nào mình đã qua. Người lính năm xưa lạc ngay tại nơi hơn ba mươi
năm trước mình đã phải gồng mình giành giật sự sống từng giây từng phút. Tại?
Tại sông Lô bây giờ không
cuộn cuộn sắc đỏ. Tại suối Thanh Thủy không còn sâu như ngày ấy. Tại con suối
trong xanh chảy trong lòng hang Làng Lò, hai bên là bờ cát không còn. Tiếc nhất
là tầng hai của hang Làng Lò cũng không còn. Tại ….!
Còn cả tại ngày ấy đạn pháo
tơi bời, có kịp định thần quan sát địa hình địa vật quanh mình đâu. Buổi hành
quân hôm ấy, chúng tôi đi trong đêm tối mịt mùng, tay giơ trước mặt không thấy.
Mưa tầm tã. Lần đầu trong đời đi qua đây vậy mà trước mặt, sau lưng mình không
thấy ai, không người dẫn lối. Phía đồi bên, những đường đạn đỏ lừ, vặn mình găm
vào trời đêm. Tiếng nổ chui sâu xuống lòng đất, ùng ục như mắc nghẹn. Khi nghe
thấy tiếng người, dừng lại cũng đúng là nơi tập kết của đơn vị. Tôi gọi đó là
linh giác của người lính dẫn đường.
Cái gì còn, cái gì mất!
Hiệu sách nhân dân không còn nhưng những cuốn sách tôi mua ngày ấy vẫn còn tuy
đã ố vàng, sờn gáy. Hang Làng Lò còn nhưng không “đẹp” như ngày xưa bởi không
còn con suối chảy giữa lòng, không còn tầng hai. Những điểm cao trắng màu đá
không còn vì màu xanh đã trở lại, phủ đầy. Sông Lô không còn cuồn cuộn sắc đỏ
phù sa nhưng bây giờ có thêm “dòng sông” mang sắc xanh áo lính chảy ngược lại
vào dịp tháng bẩy. Trở lại bên đài hương 468 nhìn về 772 và 685 tôi nhẩm đếm
cái còn cái mất. Bên ấy, đồng đội tôi chưa quy tập được về, tuy đã hơn ba mươi
năm nhưng tôi tin vẫn còn! Xương cốt đồng đội tôi hóa thành đá vun dưới chân
cột mốc đường biên. Đá là vĩnh cửu.
Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019
HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN
Những trận chiến ác liệt
với chúng tôi, những người lính Vị Xuyên đã qua hơn ba mươi năm. Mọi người hay
dùng câu “ám ảnh về cuộc chiến” hay “kí ức về một thời hoa lửa” để biểu đạt cho
cảm xúc của người lính sau chiến tranh. Nhưng với tôi và tôi cũng chắc rằng
không ít những đồng đội khác thì những từ ngữ đó như là chưa diễn đạt hết nỗi
lòng. Tôi dùng hình ảnh so sánh như thế này, một con người luôn phải mang vác
trên vai những hành trang cần thiết cho quãng đường đời của mình. Những thứ đồ
ấy có thể phải bỏ lại để mình đi chặng tiếp. Những thứ đồ bỏ lại ấy được nhớ
lại, được kể lại thông qua những kí ức, những ám ảnh, có sâu nặng hay không tùy
thuộc vào cảm xúc mình trải qua quãng đường đời ấy. Còn hành trang trên vai ba
năm mà người lính giữ đất Vị Xuyên mang vác thì đến giờ vẫn còn nặng trên vai,
chưa thể bỏ xuống được, vẫn song hành cùng tôi. Cảm xúc của những trận chiến,
những gian khổ hy sinh bị dồn nén đến cùng cực, để rồi từ một trạng thái tinh
thần đã chuyển sang khối vật chất đè nặng lên vai người lính trở về.
Đã là chiến tranh, dù lớn
hay nhỏ cũng cùng chung một đặc thù, đó là hy sinh mất mát. “Đồi thịt băm” –
Đồi 772. “Lò vôi thế kỉ” – Cao điểm 685. “Cửa tử” – Ngã ba Thanh Thủy…. Còn
nhiều địa danh khác nữa, chỉ cần nghe tên thôi cũng đủ cho ta thấy sự khắc nghiệt
của mặt trận Vị Xuyên. Bỗng nghe ai đó nhắc tới một cái tên cùng tên với đồng
đội ngã xuống cũng khiến tôi nao lòng. Những lần xem bắn pháo hoa, khi tiếng
đầu nòng phát ra thì không khác gì một trận cối 60 sắp chụp xuống mình năm xưa.
Cố kìm cũng không ngăn nổi những hàng nước mắt tràn ra. Nhiều ngày rên rĩ tiếng
đạn pháo khiến những người lính Vị Xuyên phải mang âm thanh ấy đến tận bây giờ.
Nhân ngày kỉ niệm 40 năm bảo vệ biên giới phía Bắc, cố gạt đi những câu chuyện hy
sinh mất mát, tôi muốn kể lại những chuyện vui vui một chút cho nhẹ lòng.
- Mặc dù đã hơn ba tháng
thao trường, cũng làm quen với đồi dốc nhưng lần đầu tiên lên chốt, cao điểm
812, leo được lưng chừng thì cơ bắp tôi nhão ra như nắm bông gặp nước. Phải
chống tay xuống bò như con thú bốn chân. Đơn vị lên đỉnh, củng cố hầm hào công
sự xong, không thấy hai thằng lính phố đâu mới cho người xuống đón.
- Thằng Đạo quê Vĩnh Phú,
lần đầu lên 812, gặp pháo, nó nhao vào hầm nhưng ngồi ngoài. Thằng Bình ngồi
trong đánh rắm, thằng Đạo tưởng pháo rít đẩy mọi người nhao tiếp vào trong. Vậy
mà thằng Đạo không trở về. Nó hiền lắm.
- Đào hào trong nghìn mốt.
Mưa tầm tã, 24/7. Mặc quần áo dính bết vào người khó chịu, lính mình khiêu
khích ông trời bằng cách cũng 24/7 không quần áo. Sao ngày ấy không thằng nào
nhìn thằng nào, cứ tự nhiên như được khoác bộ quần áo hoàng đế.
- Ngày ấy mình đã có ý định
xem người lính nằm tránh pháo, tránh đạn thế nào, có giống phim không mà không
thể thực hiện được.
- Một lần anh Ảm (người
Thái), B trưởng 12 ly 7 ôm một bó “rau” đi qua hầm mình. Mọi người hỏi rau gì.
Rau cải rừng (trông giống rau cải thật). Mọi người xin một ít nấu canh ăn. Hôm
sau anh Ảm xuống hỏi, chúng mày vẫn sống à? Tao nhổ ở rừng, biết rau gì đâu. Ít
ngày sau, chính anh Ảm cũng phải tìm thứ rau ấy để ăn (vì vận tải không lên
được, cả tuần chỉ có muối trắng làm thức ăn)
- Cũng dạo ấy, chốt ở khe
núi, chống đánh luồn sâu của địch nên có thể nấu ăn được. Hôm ấy 22 tháng 11
năm 1987, hầm mình kiếm được bữa rau rừng. Đang ăn chiều ở ngoài cửa hang (chắc
khoảng 2 giờ, vì hôm ấy mù trời) thì bị pháo quây. Trận địa tan hoang. Sau trận
pháo, nồi rau vẫn còn nguyên. Chỉ tội bụi đất hất vào không ít. Tiếc của, ngấy
lên cho đất lắng xuống, ăn tiếp.
Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019
Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019
HỌ ĐÃ CHIẾN ĐẤU VÌ DANH DỰ
Đề tài công nhân và người lao động vốn là thế mạnh quen thuộc và
xuyên suốt quá trình sáng tác văn xuôi của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng và anh đã
thu được thành công ít nhiều. Nhưng đến tiểu thuyết thứ năm của mình mang tên “Mộ đá ngang lưng trời”,
Nguyễn Quốc Hùng lại rẽ sang một đề tài hoàn toàn khác – đó là đề tài chiến
tranh và người lính. Cuốn tiểu thuyết này ra đời sau khi trận chiến Vị Xuyên
kết thúc được ba mươi năm và cũng là quãng thời gian mà tác giả đã trực tiếp
cầm súng nơi chiến trường này, trở về sống đời bình thường sau quân ngũ. Với
anh, những kí ức vẫn còn vẹn nguyên, sự xúc động về tình đồng đội vẫn còn dồn
nén trong tâm trí, đã thúc giục bản thân phải bày tỏ khúc bi tráng của chiến trường
qua trang viết. Ai từng biết đến những trận đánh Vị Xuyên (Hà Giang), ai từng
biến đến sự khốc liệt của địa danh từng được ví như “cối xay thịt” này, đọc
cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Quốc Hùng, hẳn khó cầm nước mắt.
Tiểu thuyết gồm 3 phần, mỗi phần đều có khúc Vĩ thanh riêng,
liên kết và xuyên suốt. Tác giả dày công khắc họa hàng chục nhân vật lấy nguyên
mẫu từ những người đồng đội, cùng nhau đi qua những cơn mưa rừng xối xả, những
cơn bão đạn bỏng rát, những trận chiến bên bờ sinh – tử. Từng diễn biến tâm lý,
sinh hoạt thường ngày của những người lính Vị Xuyên, từng phút từng giây của
cuộc chiến được Nguyễn Quốc Hùng tường thuật lại khá chi tiết và chân thật, đến
mức người đọc có cảm giác như đang cùng các chiến sĩ bấm chân trên những dốc
núi trơn trượt, bết đất đỏ và còn có thể nghe thấy tiếng ầm của đạn, pháo,
tiếng rung của đất núi và đá nơi biên giới Hà Giang ngày ấy. Ngay phần mở đầu,
Nguyễn Quốc Hùng bộc bạch: “Tôi viết cuốn sách này bằng kí
ức của tôi và của nhiều đồng đội khác.”. Chính là người trong cuộc
nên tác giả giúp bạn đọc hiểu thấu đáo về cuộc sống, sinh hoạt và tư tưởng của
người chiến sĩ trên mặt trận này. Những địa danh như “đồi thịt băm” hay “lò vôi
thế kỉ” và nhiều cái tên khác mà những ai từng quan tâm tới mặt trận Vị Xuyên
đã biết tới, nay thông qua cuốn tiểu thuyết, bằng những câu chuyện, những hình
ảnh xác thực được tác giả phản ánh, bạn đọc lại thêm dịp có thể hiểu là tại sao
có những cái tên nghe khủng khiếp như vậy.
Những chiến sĩ tham trận đánh Vị Xuyên trong chiến tranh biên giới
phía Bắc những năm 1984 – 1989 được nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khắc họa qua tiểu
thuyết Mộ đá ngang lưng trời với dáng vóc hiên ngang, khí phách
kiên cường, đã vì danh dự mà hy sinh xương máu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng
của Tổ quốc. Danh dự của con người, danh dự người chiến sĩ trên trận
chiến này được tác giả nhiều lần nhắc tới. Tâm trạng của người lính trước khi
vào trận chiến sinh tử động viên nhau: “– Sợ chứ. Ai chả sợ. Nhưng một
khi chấp nhận là người lính tức là chấp nhận nguy hiểm, chấp nhận hy sinh, cái
đấy nó át cái sợ đi thôi. Không biết ở tuổi cậu có thấy ấm ức trong lòng, còn
cái danh dự nữa, nó vào cướp nhà mình thì mình phải chiến lại, có thấy thế
không?
– Dạ!
– Danh dự đấy!”
Khi những người lính xung phong, quyết tử với kẻ thù, thì triết
lý sống ấy thật giản dị như:“C trưởng nhìn đội hình đơn vị
rồi hô to: – Vì danh dự, vì truyền thống của quân đội ta, tất cả anh em tiến
lên!
Những bóng người bật dậy lao thẳng lên phía trước.”
Và còn cái danh dự quyết
không để đánh mất, đó là làm xấu hình ảnh của người chiến sĩ trước kẻ thù thâm
độc.
Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018
"ĐỒNG ĐỘI TÔI LÀ NHỮNG VIÊN ĐÁ NHỎ KIA ..."
Linh Chi : Báo Hải Phòng cuối tuần
“Ngọn
núi ơi, đồng đội tôi là những viên dá nhỏ kia/ Những thân xác hóa đá núi Vị
Xuyên/ Đá chồng lên đá/ Đồng đội ơi!? Ai nằm khe suối, ai thung sâu hay lưng
chừng trời/ Về đây/ Ru hời ru/ Đá núi/ Ngủ đi!” - Những câu thơ như lời ru
đồng đội vang lên từ tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” của nhà văn Nguyễn
Quốc Hùng khiến nhiều người cay mắt. Ai từng biết đến những trận đánh Vị Xuyên
(Hà Giang), ai từng biến đến sự khốc liệt của địa danh từng được ví như “cối
xay thịt” này, đọc tiểu thuyết của Nguyễn Quốc Hùng, sẽ không cầm được nước
mắt…
1. “Tôi viết cuốn sách này bằng ký ức của tôi
và của nhiều đồng đội khác. Viết để đuổi theo cái bóng của nó. Nó có tên, nhưng
đã từng có hơn ba năm nằm hầm, nằm hang, chốt giữ đường biên với nhau gọi thế
cho gợi thêm nỗi nhớ…” – Nguyễn Quốc Hùng bắt đầu câu chuyện của mình như
vậy trong lời mở đầu tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời”. “Nó” mà anh nhắc tới
là một đồng đội của anh, một người kém tuổi anh, đi với anh như hình với bóng
trong suốt những tháng ngày tham gia trận chiến gìn giữ vùng biên giới của Tổ
quốc nơi cổng trời Hà Giang. Sau lời mở đầu giới thiệu ấy, “nó” xuất hiện trong
tiểu thuyết là nhân vật Hoàng “dở”. Cùng nhân vật chính tên Huy và những người
đồng đội khác. Các nhân vật đưa người đọc cùng tham gia những trận phục kích,
hành quân, đối mặt với tuyến lửa nơi biên giới Việt nam – Trung Quốc trong trận
đánh Vị Xuyên năm ấy.
Tiểu thuyết được
bố cục thành 3 phần. Mỗi phần đều có khúc “Vĩ thanh” riêng. Tưởng như tách biệt
nhưng đều liên kết và xuyên suốt bởi chính những nhân vật cùng nhau đi qua
những cơn mưa rừng xối xả, những cơn bão đạn bỏng rát, những trận chiến bên bờ
sinh – tử. Từng phút, từng giây, từng diễn biến tâm lý, sinh hoạt thường ngày
của những người lính Vị Xuyên được tường thuật lại chi tiết và chân thật. Đến
mức, người đọc có cảm giác như đang cùng các chiến sĩ bấm chân trên những dốc
núi trơn trượt, bết đất đỏ ấy. Và còn có thể nghe thấy tiếng ầm của đạn, pháo,
tiếng rung của đất núi và đá qua tường thuật chi tiết của Nguyễn Quốc Hùng.
Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018
Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018
Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018
CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”
CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG
NHÂN”
“Những anh công nhân bốc xếp như chúng tôi vì cái tội
ngửi mùi mồ hôi của nhau nhiều hơn mùi mồ hôi vợ mà mang nợ nhau. Chuyện của
những người quanh tôi gắn bó với tôi nhiều lắm, không dứt ra được, cho nên cứ
phải viết về họ: - Tâm sự của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khi nói về đề tài công
nhân lao động trong các sáng tác của anh. Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết “Thủy
sinh” hay bất kì cuốn sách nào do anh viết, ít ai biết rằng tác giả của những
tập truyện ngắn và tiểu thuyết ấy là một người công nhân lái cần trục chân đế
tại Cảng Hải Phòng, được bạn văn yêu mến đặt cho tên gọi thân mật “ nhà văn
công nhân”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng sinh ra và lớn lên tại Hải
Phòng. Học xong phổ thông, vào bộ đội rồi trở về quê hương học nghề, anh trở
thành công nhân điều khiển cần trục chân đế ở Cảng Hải Phòng. Thế rồi hình ảnh
của những người thợ cùng với cuộc sống sôi động luôn hiện ra trước mắt anh. Anh
cho rằng, hiện thực cuộc sống lao động với những người công nhân Cảng Hải Phòng
đã và đang diễn ra trước mắt đủ nuôi cả một đời văn cho những ai ham mê viết
lách, chẳng riêng gì anh.
Đọc tác phẩm của Nguyễn Quốc Hùng thấy rõ tình cảm của
nguồi viết với nhân vật. Và có lẽ đó cũng chính là mạch nguồn nối dài “nghiệp
văn” của anh. Năm 2005, anh cho in cuốn tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa”. Nhân vật ông Phiện là một người công nhân bốc
xếp có ngoại hình thô ráp, mang tính bẳn gắt của người lao động nặng. Nhưng khi
phải chia tay nhóm học sinh thực hành tại Cảng, ánh mắt mang theo niềm xúc
động, da diết. Cuộc sống tươi trẻ, hồn nhiên của nhóm học sinh đã làm khuấy
động cuộc sống của ông. Tiểu thuyết “Chuyến
hàng mưa” từng đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT
Việt Nam
năm 2006.
Sau này, Nguyễn Quốc Hùng vẫn tiếp tục khắc họa hình
ảnh ông Phiện, giữ nguyên ngoại hình và tính cách trong một số tác phẩm khác.
Bởi lẽ, câu chuyện chia tay với nhóm học sinh đến lao động thực tế tại Cảng
cùng ánh mắt rưng rưng niềm xúc động của người công nhân Cảng là một câu chuyện
hoàn toàn có thật. Từ đấy mà anh đi tìm
mãi những ý tưởng, những cốt truyện xoay quanh ánh mắt ấy. Đọng lại sâu lắng và
thành công sau này còn có truyện ngắn “Mặt
trời dưới lòng sông”.
Một điều đặc biệt là Nguyễn Quốc Hùng chỉ viết âm
thầm. Âm thầm như bản tính trầm lặng của anh vậy. Không mấy ai ở xí nghiệp xếp
dỡ Hoàng Diệu biết đằng sau những giờ làm việc căng thẳng, anh vẫn say mê sinh
hoạt trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ của thành phố, sau này được kết nạp
vào Hội Nhà văn Hải Phòng, rồi Hội Nhà văn Việt Nam . Khi anh đã có những truyện
ngắn được đăng trên một số tờ báo và tạp chí văn chương, thâm chí đoạt giải
thưởng cho cuốn tiểu thuyết và cuộc thi truyện ngắn trên báo Văn Nghệ thì đồng
nghiệp ở Cảng cũng vẫn không biết anh là một cây bút ham mê sáng tác văn học.
Anh cũng thực sự rất thích và yêu mến cái tên gọi “Nhà văn công nhân” mà mọi
người vẫn thường gọi mình.
Sau “Chuyến hàng
mưa” – cuốn tự truyện của người công nhân Cảng, Nguyễn Quốc Hùng xuất bản
tập truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông”
, tập hợp những tác phẩm của anh đã đăng ở một số báo và tạp chí văn chương.
Rồi đến “Dòng sông chở kiếp” viết về
đề tài nông thôn. Anh giới thiệu “Dòng
sông chở kiếp” đưa bạn đọc trở về với một làng quê vùng châu thổ sông Hồng,
nơi có ánh đồng, có ngôi chùa thấp thoáng sau rặng tre, nơi có những người nông
dân chất phác, thật thà, quanh năm một sương hai nắng, bỗng phải đối mặt với
đầy những biến động trong đời thường nơi thôn dã. Gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” xuất bản năm 2011. Cuốn tiểu
thuyết được nhận xét rằng đã chạm đến tận cùng tâm tư của người lao động. Cũng
đúng thôi, bởi một lần nữa, Nguyễn Quốc Hùng lại chạm đến đề tài “tủ” của mình
bằng tất thảy tình cảm dành cho những đồng nghiệp. Rồi đây, những nhân vật như
ông Phiện (Chuyến hàng mưa), như Phương (Thủy sinh) ... sẽ còn được khắc họa
sinh động, rõ nét trong mỗi trang văn của anh.
Đầu sách đã được xuất bản của Nguyễn Quốc Hùng chưa
nhiều, tài sản văn chương chưa hẳn “giàu có” nhưng điều quý giá ở anh chính là
sự “giàu có” trong tâm hồn văn. Nói vậy chắc cũng chẳng quá với một người công
nhân, đã lấy văn chương làm niềm vui, niềm đam mê. Người công nhân ấy làm việc
theo ca kíp, thời gian dành cho văn còn quá ít. Viết được một truyện ngắn, một
tiểu thuyết hay thật khó. “Nhưng khó lại chính là động lực cuốn được sự đam mê
của con người” – anh khảng định chắc nịch.
Huyền Trâm
(Báo An ninh
Hải Phòng – số 3006 – thứ tư ngày 23 tháng 10 năm 2013)
Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016
"THỜI" CỦA VĂN HỌC CÔNG NHÂN (Nhà văn Phong Điệp trả lời phỏng vấn)
(Nhân Dân) - Theo dõi đời sống văn học
nhiều biến động, không ít người bày tỏ sự nghi ngờ về sức hút của văn học về đề
tài công nhân. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng, văn học về đề tài công nhân
không còn cần thiết. Phải chăng đã qua "thời" của văn học công nhân?
"Một thuở vàng son"
Sự thiếu vắng những tác phẩm văn học thật
sự hấp dẫn, thuyết phục về đề tài công nhân khiến nhiều người không khỏi tiếc
nhớ đến một giai đoạn "vàng son" trong quá khứ. Giai đoạn đó, rất
nhiều nhà văn đã thành danh và ghi dấu ấn của mình với mảng đề tài này. Đó là
Nguyên Hồng với bộ tiểu thuyết Cửa biển;Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ, Một chiều
giông gió; Trần Nhuận Minh với Âm điệu một vùng đất, Thành phố bên này sông,
Trước mùa mưa bão, Hòn đảo phía chân trời... Đó là Lý Biên Cương lăn lộn làm
báo Vùng mỏ và từ đó đã viết ra những tác phẩm ấn tượng như: Khoảng không của đất,
Người đãi vàng... Ông đã đoạt giải thưởng chính thức văn học về đề tài công
nhân lần thứ I của Hội Nhà văn và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Xuân Cang
với Suối gang, Lên cao, Trước lửa, Chặng đường nóng bỏng. Ông đã nhận Tặng
thưởng văn học đề tài công nhân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần I
(1969 - 1971) và lần II (1972 - 1974). Đó là Võ Huy Tâm, người con của tỉnh Nam
Định đã theo gia đình đến sinh sống và lập nghiệp ở vùng mỏ. Những ngày tháng
làm thợ mỏ ở mỏ than Uông Bí đã giúp ông có những trải nghiệm quý giá để viết
nên tác phẩm nổi tiếng Vùng mỏ(tiểu thuyết đoạt giải nhất Giải thưởng Văn nghệ
của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951-1952). Ngoài ra ông còn nhiều tác phẩm khác
vẫn trung thành với người thợ mỏ như: Chiếc cán búa, Ngõ ngang xóm thợ, Những
người thợ mỏ... Đó là Võ Khắc Nghiêm với Xung đột âm thầm, 16 tấn vàng, Tìm lại
chính mình, Mạnh hơn công lý. Ông đã đoạt giải A văn học về đề tài công nhân
năm 1990-1995. Một nhà văn nữa cũng rất đặc sắc là Tạ Vũ, người đã được tặng
thưởng của Tổng Công đoàn Việt Nam năm 1975 cho tập Những cánh chim trời. Suốt
thời tuổi trẻ của mình, Tạ Vũ xung phong đi khôi phục đường sắt ở miền tây, đi
làm công nhân thăm dò địa chất. Ông không ngại xông pha, để rồi cho ra đời
những tác phẩm thật sự ám ảnh với độc giả.
Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016
Nhà văn công nhân đam mê viết về người lao động

Bùi Thu Hằng
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, với niềm đam mê sáng tác về
đề tài công nhân. Anh viết như để trả nợ, những cuộc đời lam lũ, đã đồng hành
cùng anh, mà “Đồng cam cộng khổ. Anh mượn những nhân vật có thật để nói nên
trăn trở của mình, số phận mình . Anh bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên vào
ngôi nhà văn chương, từ câu lạc bộ sáng tác văn trẻ Hải Phòng, rồi trở thành Hội
viên hội nhà văn Hải Phòng. Hội viên hội nhà văn Việt Nam . Trong mười
năm, từ năm 2005 - 2015, cùng với guồng quay chóng mặt, sáu tiếng một ca với
công việc lái cần trục chân đế cho Xí
nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu. Anh đã trăn trở với những trang viết nhọc nhằn về số
phận con người lao động, trong kiếp phù sinh. Anh cho ra đời liên tiếp 4 tập
tiểu thuyết, và 1 tập truyện ngắn. Tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa”, xuất bản năm 2005. Tập truyện ngắn “Mặt trời
dưới lòng sông”, xuất bản năm 2008. Tiểu thuyết “Dòng sông chở kiếp”, xuất bản
năm 2009. Tiểu thuyết “Thủy sinh”, xuất năm 2011. Tiểu thuyết “ 720 độ góc luân
hồi”, xuất bản năm 2015. Mười năm, với
bút lực dồi dào, số lượng những đứa con ra đời của anh chỉ liệt kê cũng đủ hoa
mắt. Các tập sách của anh liên tiếp nhận được các giải thưởng, từ Liên Hiệp Các
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam ,
Báo Văn nghệ. Đặc biệt năm 2015 tập tiểu thuyết “720 độ góc luân hồi’ của anh
được giải nhì Cuộc vân động sáng tác văn học về đề tào Công nhân và Công đoàn
giai đoạn 2010 – 2014.
Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016
KHÁM PHÁ MỘT GÓC NHỎ CỦA HẢI PHÒNG TRONG THƠ HOÀI KHÁNH
“Và
trong tôi có một Hải Phòng / Khi em nhắc tới màu hoa phượng đỏ” Phải tự hào với mảnh đất nơi
mình sinh ra và lớn lên, nhà thơ Hoài Khánh mới có những câu thơ da diết như
vậy trong tập thơ Có một Hải Phòng
do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn bản vào tháng 10 năm 2015.
Hải Phòng, vùng đất mà nắng làm
bạc thêm lưng áo người thợ và gió làm rộn thêm tiếng còi tầu hú dài trên bến
cảng, cả màu hoa phượng cũng đỏ căng để sắc màu được cháy hết mình, giống như cuộc
sống sôi động của con người nơi đây. Qua tập thơ Có một Hải Phòng, nhà Thơ Hoài Khánh sẽ dẫn bạn đọc đi qua những
địa danh mang vẻ đẹp rất riêng của thành phố Hải Phòng. Trước hết là Hòn Dáu,
hòn đảo nhỏ có địa thế và cảnh quan thơ mộng. Trên đó còn có ngọn hải đăng cùng
trạm thủy văn mà đến với khu du lịch Đồ Sơn ai cũng muốn ghé thăm.
Thấp thoáng mảnh mai
dốc đảo
Theo lối em rất riêng
Gió đại dương phồng
căng ngực áo
Đồ Sơn mặt trời ngả
nghiêng …
( Viết ở trạm thủy văn Hòn Dáu)
Rồi đến Thăm đền Trạng Trình ngày xuân
Vào đền cúi lạy hồn thiêng
Ngoài sân cái rét
tháng giêng cũng gày
Bạch Vân Am ở chốn này
Hồn người xưa đã theo
mây về trời
Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015
CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”
Huyền Trâm
(Báo An ninh
Hải Phòng – số 3006 – thứ tư ngày 23 tháng 10 năm 2013)
“Những anh công nhân bốc xếp như chúng tôi vì cái tội
ngửi mùi mồ hôi của nhau nhiều hơn mùi mồ hôi vợ mà mang nợ nhau. Chuyện của
những người quanh tôi gắn bó với tôi nhiều lắm, không dứt ra được, cho nên cứ
phải viết về họ: - Tâm sự của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khi nói về đề tài công
nhân lao động trong các sáng tác của anh. Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết “Thủy
sinh” hay bất kì cuốn sách nào do anh viết, ít ai biết rằng tác giả của những
tập truyện ngắn và tiểu thuyết ấy là một người công nhân lái cần trục chân đế
tại Cảng Hải Phòng, được bạn văn yêu mến đặt cho tên gọi thân mật “ nhà văn
công nhân”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng sinh ra và lớn lên tại Hải
Phòng. Học xong phổ thông, vào bộ đội rồi trở về quê hương học nghề, anh trở
thành công nhân điều khiển cần trục chân đế ở Cảng Hải Phòng. Thế rồi hình ảnh
của những người thợ cùng với cuộc sống sôi động luôn hiện ra trước mắt anh. Anh
cho rằng, hiện thực cuộc sống lao động với những người công nhân Cảng Hải Phòng
đã và đang diễn ra trước mắt đủ nuôi cả một đời văn cho những ai ham mê viết
lách, chẳng riêng gì anh.
Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015
ĐỘI NGŨ VIẾT VĂN TRẺ HẢI PHÒNG HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG “HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”

(Bình minh mưa)
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người hiện
thân của những giá trị đạo đức, văn hoá của dân tộc - Người là một tấm gương
mẫu mực về đạo đức cách mạng để toàn đảng, toàn dân noi theo. Coi đạo đức là
nền tảng của con người cách mạng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới việc giáo dục,
rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
"Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh" là cuộc vận động sâu rộng trong toàn đảng, toàn
dân ta nhằm đáp ứng được với những vận hội mới, thách thức mới, để đưa nước ta
trở nên đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, báo đáp lại công ơn của con Người đã hy
sinh cả cuộc đời vì nền độc lập, thống nhất cho dân tộc Việt Nam, vì một thế
giới hoà bình và phát triển. Hội liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố Hải
Phòng phát động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học - nghệ thuật về chủ đề "Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là hành động thiết
thực của những văn nghệ sĩ đất Cảng góp một tiếng nói cùng Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân thành phố Hải Phòng tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước
trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc,
dấy lên phong trào "Người tốt việc tốt", nêu gương sáng đạo
đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.
Ngày 20 tháng 10 năm 1946, khi
đặt chân xuống bến Cầu Ngự Người hằng mong, Hải Phòng sẽ trở thành thành phố
gương mẫu trong nước ta. Trải qua chặng đường dài đấu tranh và dựng xây, chúng
ta đã làm được gì để thoả lòng mong mỏi của Người? Đội ngũ công nhân Hải Phòng
đã đóng được những con tầu trên năm vạn tấn, hơn mười hai triệu tấn hàng hoá
qua đôi vai người công nhân Cảng đi đến mọi miền Tổ quốc, hàng triệu tấn sắt
thép, xi măng ra lò ... Hãnh diện lắm chứ khi thành phố đã thực sự là một trong
những thành phố công nghiệp hàng đầu trong cả nước.
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015
NHỮNG BỨC ẢNH TẠI ĐẠI HỘI IX HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
(Nguyễn Quốc Hùng)
(BCH từ trái qua phải: Nguyễn Bình Phương, Khuất Quang Thụy, Trần Đăng Khoa,
Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Trí Huân)
(Nhà văn Vũ Tú Nam)
( Cùng nhà văn Phạm Viết Đào)
(Hai cha con nhà văn Lê Hồng Thiện, Lê Hồng Nguyên)
(Nhà văn Mạc Can và nhà thơ Tạ Văn Sỹ)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















