Thứ Ba, 22 tháng 10, 2019

Báo Hải Phòng (26-7-2019) TÔI CỐ GẮNG ĐỂ CÓ NÉN NHANG THƠM TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI




1- Được biết anh vừa trở về từ chuyến thăm chiến trường xưa và tri ân đồng đội tại mặt trận Vị Xuyên. Đây cũng là bối cảnh chính để anh sáng tác nên tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời”. Cảm xúc của anh giờ này như thế nào?
- Được trở lại thăm chiến trường xưa, được thắp một nén nhang trên mộ những đồng đội đã quy tập và những nén nhang lên khe đá cho những đồng đội còn nằm đâu đó trên các triền núi, khe sâu không chỉ riêng tôi mà với tất cả những ai quan tâm tới những người anh hùng đã ngã xuống vì sự toàn vẹn của Tổ Quốc bao giờ cũng xúc động. Trong ngày giỗ trận năm nay, những người lính Vị Xuyên năm xưa được nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân về tham dự càng khiến chúng tôi xúc động hơn vì sự hy sinh của chúng tôi ngày càng được nhà nước quan tâm hơn.
2- Trong tiểu thuyết của mình, anh nhắc nhiều tới những đồng đội hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt năm xưa. Điều đặc biệt, anh chính là một trong những người lính trực tiếp có mặt trên chiến trường đó. Anh có thể chia sẻ quá trình sáng tác “Mộ đá ngang lưng trời”?
- Trong tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” tôi có giải thích vì sao, cuộc chiến đã kết thúc hơn ba mươi năm tôi mới viết được về chính mình, về những người đồng đội của tôi “Cuộc chiến tranh nào chẳng khốc liệt, chẳng bắn súng ném lựu đạn, chẳng gian khổ hy sinh. Viết cuộc chiến của mình không khéo người đọc lại nghĩ mình viết về đại chiến thế giới lần thứ hai.”
“Có thể từ chuyện bọn người đãi vàng này xây dựng nên một cốt truyện hấp dẫn, ma quái. Xu hướng văn chương bây giờ phần nhiều là thể hiện câu chuyện dưới những hình ảnh ma mị, quái đản hoặc về tâm linh, nhất là những cuốn viết về chiến tranh. Huy đã đọc những truyện như vậy viết về chính cuộc chiến Huy tham gia. Có hay, có hấp dẫn, có tính sáng tạo. Nhưng tác giả là người ngoài cuộc, còn Huy là người trực tiếp đổ xương đổ máu xuống mảnh đất biên cương này, thấy mình có tội nếu viết theo xu hướng ấy.”
Tôi đi tìm cái riêng của cuộc chiến tôi tham gia. Đó là, những người lính ngã xuống trong chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc chiến tranh thống nhất đất nước là vì lý tưởng cách mạng, còn chúng tôi, những người lính bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ Quốc đã vì danh dự của dân tộc mà xông lên. Và thời gian cũng khiến cho cái “cô đơn” của người trải qua chiến trận thấm sâu hơn vào huyết quản của mình.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

TRỞ LẠI VỊ XUYÊN 2019




1- Được biết anh vừa trở về từ chuyến thăm chiến trường xưa và tri ân đồng đội tại mặt trận Vị Xuyên. Đây cũng là bối cảnh chính để anh sáng tác nên tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời”. Cảm xúc của anh giờ này như thế nào?
- Được trở lại thăm chiến trường xưa, được thắp một nén nhang trên mộ những đồng đội đã quy tập và những nén nhang lên khe đá cho những đồng đội còn nằm đâu đó trên các triền núi, khe sâu không chỉ riêng tôi mà với tất cả những ai quan tâm tới những người anh hùng đã ngã xuống vì sự toàn vẹn của Tổ Quốc bao giờ cũng xúc động. Trong ngày giỗ trận năm nay, những người lính Vị Xuyên năm xưa được nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân về tham dự càng khiến chúng tôi xúc động hơn vì sự hy sinh của chúng tôi ngày càng được nhà nước quan tâm hơn.
2- Trong tiểu thuyết của mình, anh nhắc nhiều tới những đồng đội hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt năm xưa. Điều đặc biệt, anh chính là một trong những người lính trực tiếp có mặt trên chiến trường đó. Anh có thể chia sẻ quá trình sáng tác “Mộ đá ngang lưng trời”?
- Trong tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” tôi có giải thích vì sao, cuộc chiến đã kết thúc hơn ba mươi năm tôi mới viết được về chính mình, về những người đồng đội của tôi “Cuộc chiến tranh nào chẳng khốc liệt, chẳng bắn súng ném lựu đạn, chẳng gian khổ hy sinh. Viết cuộc chiến của mình không khéo người đọc lại nghĩ mình viết về đại chiến thế giới lần thứ hai.”
“Có thể từ chuyện bọn người đãi vàng này xây dựng nên một cốt truyện hấp dẫn, ma quái. Xu hướng văn chương bây giờ phần nhiều là thể hiện câu chuyện dưới những hình ảnh ma mị, quái đản hoặc về tâm linh, nhất là những cuốn viết về chiến tranh. Huy đã đọc những truyện như vậy viết về chính cuộc chiến Huy tham gia. Có hay, có hấp dẫn, có tính sáng tạo. Nhưng tác giả là người ngoài cuộc, còn Huy là người trực tiếp đổ xương đổ máu xuống mảnh đất biên cương này, thấy mình có tội nếu viết theo xu hướng ấy.”
Tôi đi tìm cái riêng của cuộc chiến tôi tham gia. Đó là, những người lính ngã xuống trong chiến tranh giải phóng dân tộc và cuộc chiến tranh thống nhất đất nước là vì lý tưởng cách mạng, còn chúng tôi, những người lính bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ Quốc đã vì danh dự của dân tộc mà xông lên. Và thời gian cũng khiến cho cái “cô đơn” của người trải qua chiến trận thấm sâu hơn vào huyết quản của mình.
3- Không ít nhà văn chưa từng có mặt trong các cuộc chiến cũng lựa chọn đề tài về chiến tranh và những tuyến nhân vật là người lính, thương binh, liệt sĩ. Cảm nhận của anh về những sáng tác đó? Việc lựa chọn đề tài mà mình chưa trải qua kinh nghiệm có phải là lựa chọn khó khăn với những nhà văn?
- Khó khăn hay không là do tâm huyết của nhà văn với đề tài mình theo đuổi. Tác phẩm có hay hay không là do tài năng của nhà văn. Ví dụ, Nguyễn Danh Dũng là một tác giả còn trẻ, chưa từng tham gia quân đội nhưng với truyện ngắn “Bóng anh hùng” viết về đề tài người lính khiến tôi xúc động. Với tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” của tôi, bạn đọc đánh giá như thế nào tôi cũng không làm cuộc khảo sát để tìm hiểu, chỉ biết rằng mình đã làm hết sức có thể để có một nén nhang thơm thắp cho đồng đội mình. Với những người trong cuộc, những người trực tiếp tham gia Mặt trận Vị Xuyên năm xưa đã vui mừng đón nhận tiểu thuyết và coi tôi như là một người đại diện nói hộ tấm lòng của họ. Có một vài cuộc tranh luận sôi nổi, vị trí ấy trong tiểu thuyết là ở chỗ này, chỗ kia, nhân vật này là ai. Có người làm ban thờ quãng đời lính của mình và trang trọng đặt cuốn tiểu thuyết của tôi trên đó xem như có linh hồn đồng đội mình.
4- Còn với những sáng tác về người lính, thương binh – liệt sĩ của các nhà văn Hải Phòng thì sao? Theo như chúng tôi được biết, có những nhà văn, nhà thơ Hải Phòng vẫn cần mẫn khai thác đề tài về người lính, về các cuộc kháng chiến. Anh có cảm nhận gì về những sáng tác ấy?
- Tác phẩm thực sự viết về người lính, thương binh – liệt sĩ của các nhà văn Hải Phòng ở thời điểm hiện tại không nhiều. Nhà văn Hoàng Thiềng cũng đã từng là người lính trải qua chiến tranh và ông cũng đã có một vài tác phẩm về đề tài này.
5- Nhiều người nhận định rằng, mảng đề tài về thương binh, liệt sĩ và những cựu chiến binh không chỉ khó thể hiện mà không còn gần gũi với bạn đọc trong giai đoạn hiện nay. Ý kiến cá nhân anh với vai trò một người cầm bút? Người sáng tác, nhất là những cây bút trẻ có nên lựa chọn đề tài này?
- Với cá nhân tôi, một người đã biết thế nào là khốc liệt của chiến tranh, biết thế nào là tình cảm sâu nặng của người lính may mắn thoát được lưỡi hái tử thần cũng rất mong lớp trẻ hiểu mình, đồng cảm với mình, cùng nói hộ mình bằng các tác phẩm văn học như nhà văn Nguyễn Bình Phương, nhà văn Nguyễn Đình Tú và Nguyễn Danh Dũng. Nhưng để có nhiều tác giả hơn nữa quan tâm tới đề tài này là một sự vượt khó vô cùng của cả xã hội chứ không riêng gì một mình Hội Nhà văn có thể làm được.
6- Nếu để đưa ra lời khuyên với công chúng yêu văn học, riêng với những sáng tác về thương binh, liệt sĩ và người lính, anh sẽ nói gì?
- Những tác phẩm viết về người lính qua các thời kỳ chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, công chúng đã rất quan tâm đón đọc và đánh giá cao những tác thời kì ấy như tiểu thuyết “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi, tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu …. Còn hiện nay, không chỉ có tác phẩm viết về người lính mà cả những đề tài khác nữa, lượng người đọc không nhiều, công chúng cũng không còn quan tâm tới văn học như trước đây. Tiên trách kỉ, hậu trách nhân, có lẽ những nhà văn của chúng ta chưa có tác phẩm hay và công tác quảng bá văn học chưa được quan tâm như các loại hình nghệ thuật khác.


Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019

SÔNG LÔ THÁNG BẨY (Tản văn)



Năm nào cũng thế, vào dịp tháng bẩy, bên cạnh dòng sông Lô có thêm một “dòng sông” mang sắc xanh áo lính chảy ngược lại từ dưới xuôi lên phía Hà Giang. Đó là “dòng sông” tạo bởi những cựu chiến binh đã tham gia mặt trận Vị Xuyên những năm 1984 – 1989 cùng nhau trở về miền kí ức, trở về thắp một nén nhang cho đồng đội, những người ngã xuống giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ Quốc.
Sông Lô bây giờ không cuồn cuộn sắc đỏ phù sa như những năm tôi là người chiến sĩ giữ chốt nơi đây. Ngày ấy, đằm mình dưới dòng Lô lên là cả thân mình đỏ rực, lấp lánh hạt phù sa phản chiếu ánh mặt trời. Sông Lô bây giờ không mênh mông, chiều sâu không bí hiểm giống như hơn ba mươi năm trước. Một vài nhà hàng bên bờ sông bây giờ đang nằm trên dòng chảy ngày xưa.
Bên bờ sông Lô bây giờ không còn hàng cây gạo thẳng tắp, trang nghiêm như người lính đứng canh cho những ngôi mộ liệt sĩ trên những triền đồi được bình yên trong tiếng pháo ì ầm vọng về từ hướng đường biên.
Đâu rồi hiệu sách nhân dân ngày xưa, nơi tôi thường xuyên lui tới trong những ngày ở cứ, ngay đầu ngã tư Nguyễn Trãi – Trần Hưng Đạo, điểm đầu của con đường lên chốt. Lần nào ở hiệu sách ra, tôi cũng tới đứng trên cầu Yên Biên nhìn hàng tre bên bờ sông Lô và đắm trong nỗi nhớ nhà. Những cuốn sách tôi mua ngày ấy còn đến bây giờ.
Đâu rồi cửa hàng tuyến lửa, nơi tôi cùng thằng Thuấn quê Nghệ Tĩnh vào mua hai mươi đồng bánh rán khiến các chị mậu dịch viên ngạc nhiên, hai anh ăn hết từng đây á. Không tiêu hết tiền sợ ngày mai không được tiêu nữa, có no cũng phải cố, sợ không có ngày xuống để được ăn bánh rán.
Căn nhà nhỏ của bưu điện Hà Giang ngày xưa thì tuyệt nhiên không thể nhận ra ở vị trí nào. Nơi đó, tôi đã gửi không ít những bức thư không dán tem, thay vào đó là dòng chữ trên phong bì “điều kiện lính chốt không có tem, nhờ bưu điện chuyển dùm”. Những bức thư là sợi dây tình cảm của người lính chốt với người thân đã được bưu điện Hà Giang kết nối đều đặn.
Con đường lên biên bây giờ rộng thênh. Tôi tìm tiếng sông Lô rì rào ngày xưa mỗi khi qua đây đều nghe thấy. Bây giờ chỉ thấy tiếng gió ào ào bên ô cửa xe.
Ngã ba Cửa Tử đây, Thung lũng gọi hồn kia. 812 cùng Coóc Nghè lẩn sau sương mù. Cầu sập, hang Dơi, hang Làng lò không giống ngày xưa. Không còn bầm dập, tan hoang vì cối pháo cày xới.
Đôi chân thong thả, lần tìm. Vị trí nào mình đã qua. Người lính năm xưa lạc ngay tại nơi hơn ba mươi năm trước mình đã phải gồng mình giành giật sự sống từng giây từng phút. Tại?
Tại sông Lô bây giờ không cuộn cuộn sắc đỏ. Tại suối Thanh Thủy không còn sâu như ngày ấy. Tại con suối trong xanh chảy trong lòng hang Làng Lò, hai bên là bờ cát không còn. Tiếc nhất là tầng hai của hang Làng Lò cũng không còn. Tại ….!
Còn cả tại ngày ấy đạn pháo tơi bời, có kịp định thần quan sát địa hình địa vật quanh mình đâu. Buổi hành quân hôm ấy, chúng tôi đi trong đêm tối mịt mùng, tay giơ trước mặt không thấy. Mưa tầm tã. Lần đầu trong đời đi qua đây vậy mà trước mặt, sau lưng mình không thấy ai, không người dẫn lối. Phía đồi bên, những đường đạn đỏ lừ, vặn mình găm vào trời đêm. Tiếng nổ chui sâu xuống lòng đất, ùng ục như mắc nghẹn. Khi nghe thấy tiếng người, dừng lại cũng đúng là nơi tập kết của đơn vị. Tôi gọi đó là linh giác của người lính dẫn đường.
Cái gì còn, cái gì mất! Hiệu sách nhân dân không còn nhưng những cuốn sách tôi mua ngày ấy vẫn còn tuy đã ố vàng, sờn gáy. Hang Làng Lò còn nhưng không “đẹp” như ngày xưa bởi không còn con suối chảy giữa lòng, không còn tầng hai. Những điểm cao trắng màu đá không còn vì màu xanh đã trở lại, phủ đầy. Sông Lô không còn cuồn cuộn sắc đỏ phù sa nhưng bây giờ có thêm “dòng sông” mang sắc xanh áo lính chảy ngược lại vào dịp tháng bẩy. Trở lại bên đài hương 468 nhìn về 772 và 685 tôi nhẩm đếm cái còn cái mất. Bên ấy, đồng đội tôi chưa quy tập được về, tuy đã hơn ba mươi năm nhưng tôi tin vẫn còn! Xương cốt đồng đội tôi hóa thành đá vun dưới chân cột mốc đường biên. Đá là vĩnh cửu.


Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

HÀNH TRANG CỦA NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN



Những trận chiến ác liệt với chúng tôi, những người lính Vị Xuyên đã qua hơn ba mươi năm. Mọi người hay dùng câu “ám ảnh về cuộc chiến” hay “kí ức về một thời hoa lửa” để biểu đạt cho cảm xúc của người lính sau chiến tranh. Nhưng với tôi và tôi cũng chắc rằng không ít những đồng đội khác thì những từ ngữ đó như là chưa diễn đạt hết nỗi lòng. Tôi dùng hình ảnh so sánh như thế này, một con người luôn phải mang vác trên vai những hành trang cần thiết cho quãng đường đời của mình. Những thứ đồ ấy có thể phải bỏ lại để mình đi chặng tiếp. Những thứ đồ bỏ lại ấy được nhớ lại, được kể lại thông qua những kí ức, những ám ảnh, có sâu nặng hay không tùy thuộc vào cảm xúc mình trải qua quãng đường đời ấy. Còn hành trang trên vai ba năm mà người lính giữ đất Vị Xuyên mang vác thì đến giờ vẫn còn nặng trên vai, chưa thể bỏ xuống được, vẫn song hành cùng tôi. Cảm xúc của những trận chiến, những gian khổ hy sinh bị dồn nén đến cùng cực, để rồi từ một trạng thái tinh thần đã chuyển sang khối vật chất đè nặng lên vai người lính trở về.
Đã là chiến tranh, dù lớn hay nhỏ cũng cùng chung một đặc thù, đó là hy sinh mất mát. “Đồi thịt băm” – Đồi 772. “Lò vôi thế kỉ” – Cao điểm 685. “Cửa tử” – Ngã ba Thanh Thủy…. Còn nhiều địa danh khác nữa, chỉ cần nghe tên thôi cũng đủ cho ta thấy sự khắc nghiệt của mặt trận Vị Xuyên. Bỗng nghe ai đó nhắc tới một cái tên cùng tên với đồng đội ngã xuống cũng khiến tôi nao lòng. Những lần xem bắn pháo hoa, khi tiếng đầu nòng phát ra thì không khác gì một trận cối 60 sắp chụp xuống mình năm xưa. Cố kìm cũng không ngăn nổi những hàng nước mắt tràn ra. Nhiều ngày rên rĩ tiếng đạn pháo khiến những người lính Vị Xuyên phải mang âm thanh ấy đến tận bây giờ. Nhân ngày kỉ niệm 40 năm bảo vệ biên giới phía Bắc, cố gạt đi những câu chuyện hy sinh mất mát, tôi muốn kể lại những chuyện vui vui một chút cho nhẹ lòng.
- Mặc dù đã hơn ba tháng thao trường, cũng làm quen với đồi dốc nhưng lần đầu tiên lên chốt, cao điểm 812, leo được lưng chừng thì cơ bắp tôi nhão ra như nắm bông gặp nước. Phải chống tay xuống bò như con thú bốn chân. Đơn vị lên đỉnh, củng cố hầm hào công sự xong, không thấy hai thằng lính phố đâu mới cho người xuống đón.
- Thằng Đạo quê Vĩnh Phú, lần đầu lên 812, gặp pháo, nó nhao vào hầm nhưng ngồi ngoài. Thằng Bình ngồi trong đánh rắm, thằng Đạo tưởng pháo rít đẩy mọi người nhao tiếp vào trong. Vậy mà thằng Đạo không trở về. Nó hiền lắm.
- Đào hào trong nghìn mốt. Mưa tầm tã, 24/7. Mặc quần áo dính bết vào người khó chịu, lính mình khiêu khích ông trời bằng cách cũng 24/7 không quần áo. Sao ngày ấy không thằng nào nhìn thằng nào, cứ tự nhiên như được khoác bộ quần áo hoàng đế.
- Ngày ấy mình đã có ý định xem người lính nằm tránh pháo, tránh đạn thế nào, có giống phim không mà không thể thực hiện được.
- Một lần anh Ảm (người Thái), B trưởng 12 ly 7 ôm một bó “rau” đi qua hầm mình. Mọi người hỏi rau gì. Rau cải rừng (trông giống rau cải thật). Mọi người xin một ít nấu canh ăn. Hôm sau anh Ảm xuống hỏi, chúng mày vẫn sống à? Tao nhổ ở rừng, biết rau gì đâu. Ít ngày sau, chính anh Ảm cũng phải tìm thứ rau ấy để ăn (vì vận tải không lên được, cả tuần chỉ có muối trắng làm thức ăn)
- Cũng dạo ấy, chốt ở khe núi, chống đánh luồn sâu của địch nên có thể nấu ăn được. Hôm ấy 22 tháng 11 năm 1987, hầm mình kiếm được bữa rau rừng. Đang ăn chiều ở ngoài cửa hang (chắc khoảng 2 giờ, vì hôm ấy mù trời) thì bị pháo quây. Trận địa tan hoang. Sau trận pháo, nồi rau vẫn còn nguyên. Chỉ tội bụi đất hất vào không ít. Tiếc của, ngấy lên cho đất lắng xuống, ăn tiếp.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

HỌ ĐÃ CHIẾN ĐẤU VÌ DANH DỰ




Đề tài công nhân và người lao động vốn là thế mạnh quen thuộc và xuyên suốt quá trình sáng tác văn xuôi của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng và anh đã thu được thành công ít nhiều. Nhưng đến tiểu thuyết thứ năm của mình mang tên “Mộ đá ngang lưng trời”, Nguyễn Quốc Hùng lại rẽ sang một đề tài hoàn toàn khác­ – đó là đề tài chiến tranh và người lính. Cuốn tiểu thuyết này ra đời sau khi trận chiến Vị Xuyên kết thúc được ba mươi năm và cũng là quãng thời gian mà tác giả đã trực tiếp cầm súng nơi chiến trường này, trở về sống đời bình thường sau quân ngũ. Với anh, những kí ức vẫn còn vẹn nguyên, sự xúc động về tình đồng đội vẫn còn dồn nén trong tâm trí, đã thúc giục bản thân phải bày tỏ khúc bi tráng của chiến trường qua trang viết. Ai từng biết đến những trận đánh Vị Xuyên (Hà Giang), ai từng biến đến sự khốc liệt của địa danh từng được ví như “cối xay thịt” này, đọc cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Quốc Hùng, hẳn khó cầm nước mắt.
Tiểu thuyết gồm 3 phần, mỗi phần đều có khúc Vĩ thanh riêng, liên kết và xuyên suốt. Tác giả dày công khắc họa hàng chục nhân vật lấy nguyên mẫu từ những người đồng đội, cùng nhau đi qua những cơn mưa rừng xối xả, những cơn bão đạn bỏng rát, những trận chiến bên bờ sinh – tử. Từng diễn biến tâm lý, sinh hoạt thường ngày của những người lính Vị Xuyên, từng phút từng giây của cuộc chiến được Nguyễn Quốc Hùng tường thuật lại khá chi tiết và chân thật, đến mức người đọc có cảm giác như đang cùng các chiến sĩ bấm chân trên những dốc núi trơn trượt, bết đất đỏ và còn có thể nghe thấy tiếng ầm của đạn, pháo, tiếng rung của đất núi và đá nơi biên giới Hà Giang ngày ấy. Ngay phần mở đầu, Nguyễn Quốc Hùng bộc bạch: “Tôi viết cuốn sách này bằng kí ức của tôi và của nhiều đồng đội khác.”. Chính là người trong cuộc nên tác giả giúp bạn đọc hiểu thấu đáo về cuộc sống, sinh hoạt và tư tưởng của người chiến sĩ trên mặt trận này. Những địa danh như “đồi thịt băm” hay “lò vôi thế kỉ” và nhiều cái tên khác mà những ai từng quan tâm tới mặt trận Vị Xuyên đã biết tới, nay thông qua cuốn tiểu thuyết, bằng những câu chuyện, những hình ảnh xác thực được tác giả phản ánh, bạn đọc lại thêm dịp có thể hiểu là tại sao có những cái tên nghe khủng khiếp như vậy.
Những chiến sĩ tham trận đánh Vị Xuyên trong chiến tranh biên giới phía Bắc những năm 1984 – 1989 được nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khắc họa qua tiểu thuyết Mộ đá ngang lưng trời với dáng vóc hiên ngang, khí phách kiên cường, đã vì danh dự mà hy sinh xương máu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của  Tổ quốc. Danh dự của con người, danh dự người chiến sĩ trên trận chiến này được tác giả nhiều lần nhắc tới. Tâm trạng của người lính trước khi vào trận chiến sinh tử động viên nhau: “– Sợ chứ. Ai chả sợ. Nhưng một khi chấp nhận là người lính tức là chấp nhận nguy hiểm, chấp nhận hy sinh, cái đấy nó át cái sợ đi thôi. Không biết ở tuổi cậu có thấy ấm ức trong lòng, còn cái danh dự nữa, nó vào cướp nhà mình thì mình phải chiến lại, có thấy thế không?
– Dạ!
– Danh dự đấy!”
Khi những người lính xung phong, quyết tử với kẻ thù, thì triết lý sống ấy thật giản dị như:“C trưởng nhìn đội hình đơn vị rồi hô to: – Vì danh dự, vì truyền thống của quân đội ta, tất cả anh em tiến lên!
Những bóng người bật dậy lao thẳng lên phía trước.”
Và còn cái danh dự quyết không để đánh mất, đó là làm xấu hình ảnh của người chiến sĩ trước kẻ thù thâm độc.

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2018

"ĐỒNG ĐỘI TÔI LÀ NHỮNG VIÊN ĐÁ NHỎ KIA ..."




Linh Chi : Báo Hải Phòng cuối tuần

“Ngọn núi ơi, đồng đội tôi là những viên dá nhỏ kia/ Những thân xác hóa đá núi Vị Xuyên/ Đá chồng lên đá/ Đồng đội ơi!? Ai nằm khe suối, ai thung sâu hay lưng chừng trời/ Về đây/ Ru hời ru/ Đá núi/ Ngủ đi!” - Những câu thơ như lời ru đồng đội vang lên từ tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời” của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khiến nhiều người cay mắt. Ai từng biết đến những trận đánh Vị Xuyên (Hà Giang), ai từng biến đến sự khốc liệt của địa danh từng được ví như “cối xay thịt” này, đọc tiểu thuyết của Nguyễn Quốc Hùng, sẽ không cầm được nước mắt…

1. “Tôi viết cuốn sách này bằng ký ức của tôi và của nhiều đồng đội khác. Viết để đuổi theo cái bóng của nó. Nó có tên, nhưng đã từng có hơn ba năm nằm hầm, nằm hang, chốt giữ đường biên với nhau gọi thế cho gợi thêm nỗi nhớ…” – Nguyễn Quốc Hùng bắt đầu câu chuyện của mình như vậy trong lời mở đầu tiểu thuyết “Mộ đá ngang lưng trời”. “Nó” mà anh nhắc tới là một đồng đội của anh, một người kém tuổi anh, đi với anh như hình với bóng trong suốt những tháng ngày tham gia trận chiến gìn giữ vùng biên giới của Tổ quốc nơi cổng trời Hà Giang. Sau lời mở đầu giới thiệu ấy, “nó” xuất hiện trong tiểu thuyết là nhân vật Hoàng “dở”. Cùng nhân vật chính tên Huy và những người đồng đội khác. Các nhân vật đưa người đọc cùng tham gia những trận phục kích, hành quân, đối mặt với tuyến lửa nơi biên giới Việt nam – Trung Quốc trong trận đánh Vị Xuyên năm ấy.
Tiểu thuyết được bố cục thành 3 phần. Mỗi phần đều có khúc “Vĩ thanh” riêng. Tưởng như tách biệt nhưng đều liên kết và xuyên suốt bởi chính những nhân vật cùng nhau đi qua những cơn mưa rừng xối xả, những cơn bão đạn bỏng rát, những trận chiến bên bờ sinh – tử. Từng phút, từng giây, từng diễn biến tâm lý, sinh hoạt thường ngày của những người lính Vị Xuyên được tường thuật lại chi tiết và chân thật. Đến mức, người đọc có cảm giác như đang cùng các chiến sĩ bấm chân trên những dốc núi trơn trượt, bết đất đỏ ấy. Và còn có thể nghe thấy tiếng ầm của đạn, pháo, tiếng rung của đất núi và đá qua tường thuật chi tiết của Nguyễn Quốc Hùng.

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”


CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”

“Những anh công nhân bốc xếp như chúng tôi vì cái tội ngửi mùi mồ hôi của nhau nhiều hơn mùi mồ hôi vợ mà mang nợ nhau. Chuyện của những người quanh tôi gắn bó với tôi nhiều lắm, không dứt ra được, cho nên cứ phải viết về họ: - Tâm sự của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khi nói về đề tài công nhân lao động trong các sáng tác của anh. Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” hay bất kì cuốn sách nào do anh viết, ít ai biết rằng tác giả của những tập truyện ngắn và tiểu thuyết ấy là một người công nhân lái cần trục chân đế tại Cảng Hải Phòng, được bạn văn yêu mến đặt cho tên gọi thân mật “ nhà văn công nhân”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng. Học xong phổ thông, vào bộ đội rồi trở về quê hương học nghề, anh trở thành công nhân điều khiển cần trục chân đế ở Cảng Hải Phòng. Thế rồi hình ảnh của những người thợ cùng với cuộc sống sôi động luôn hiện ra trước mắt anh. Anh cho rằng, hiện thực cuộc sống lao động với những người công nhân Cảng Hải Phòng đã và đang diễn ra trước mắt đủ nuôi cả một đời văn cho những ai ham mê viết lách, chẳng riêng gì anh.
Đọc tác phẩm của Nguyễn Quốc Hùng thấy rõ tình cảm của nguồi viết với nhân vật. Và có lẽ đó cũng chính là mạch nguồn nối dài “nghiệp văn” của anh. Năm 2005, anh cho in cuốn tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa”. Nhân vật ông Phiện là một người công nhân bốc xếp có ngoại hình thô ráp, mang tính bẳn gắt của người lao động nặng. Nhưng khi phải chia tay nhóm học sinh thực hành tại Cảng, ánh mắt mang theo niềm xúc động, da diết. Cuộc sống tươi trẻ, hồn nhiên của nhóm học sinh đã làm khuấy động cuộc sống của ông. Tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa” từng đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam năm 2006.
Sau này, Nguyễn Quốc Hùng vẫn tiếp tục khắc họa hình ảnh ông Phiện, giữ nguyên ngoại hình và tính cách trong một số tác phẩm khác. Bởi lẽ, câu chuyện chia tay với nhóm học sinh đến lao động thực tế tại Cảng cùng ánh mắt rưng rưng niềm xúc động của người công nhân Cảng là một câu chuyện hoàn toàn có thật.  Từ đấy mà anh đi tìm mãi những ý tưởng, những cốt truyện xoay quanh ánh mắt ấy. Đọng lại sâu lắng và thành công sau này còn có truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông”.
Một điều đặc biệt là Nguyễn Quốc Hùng chỉ viết âm thầm. Âm thầm như bản tính trầm lặng của anh vậy. Không mấy ai ở xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu biết đằng sau những giờ làm việc căng thẳng, anh vẫn say mê sinh hoạt trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ của thành phố, sau này được kết nạp vào Hội Nhà văn Hải Phòng, rồi Hội Nhà văn Việt Nam. Khi anh đã có những truyện ngắn được đăng trên một số tờ báo và tạp chí văn chương, thâm chí đoạt giải thưởng cho cuốn tiểu thuyết và cuộc thi truyện ngắn trên báo Văn Nghệ thì đồng nghiệp ở Cảng cũng vẫn không biết anh là một cây bút ham mê sáng tác văn học. Anh cũng thực sự rất thích và yêu mến cái tên gọi “Nhà văn công nhân” mà mọi người vẫn thường gọi mình.
Sau “Chuyến hàng mưa” – cuốn tự truyện của người công nhân Cảng, Nguyễn Quốc Hùng xuất bản tập truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông” , tập hợp những tác phẩm của anh đã đăng ở một số báo và tạp chí văn chương. Rồi đến “Dòng sông chở kiếp” viết về đề tài nông thôn. Anh giới thiệu “Dòng sông chở kiếp” đưa bạn đọc trở về với một làng quê vùng châu thổ sông Hồng, nơi có ánh đồng, có ngôi chùa thấp thoáng sau rặng tre, nơi có những người nông dân chất phác, thật thà, quanh năm một sương hai nắng, bỗng phải đối mặt với đầy những biến động trong đời thường nơi thôn dã.  Gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” xuất bản năm 2011. Cuốn tiểu thuyết được nhận xét rằng đã chạm đến tận cùng tâm tư của người lao động. Cũng đúng thôi, bởi một lần nữa, Nguyễn Quốc Hùng lại chạm đến đề tài “tủ” của mình bằng tất thảy tình cảm dành cho những đồng nghiệp. Rồi đây, những nhân vật như ông Phiện (Chuyến hàng mưa), như Phương (Thủy sinh) ... sẽ còn được khắc họa sinh động, rõ nét trong mỗi trang văn của anh.
Đầu sách đã được xuất bản của Nguyễn Quốc Hùng chưa nhiều, tài sản văn chương chưa hẳn “giàu có” nhưng điều quý giá ở anh chính là sự “giàu có” trong tâm hồn văn. Nói vậy chắc cũng chẳng quá với một người công nhân, đã lấy văn chương làm niềm vui, niềm đam mê. Người công nhân ấy làm việc theo ca kíp, thời gian dành cho văn còn quá ít. Viết được một truyện ngắn, một tiểu thuyết hay thật khó. “Nhưng khó lại chính là động lực cuốn được sự đam mê của con người” – anh khảng định chắc nịch.
Huyền Trâm
(Báo An ninh Hải Phòng – số 3006 – thứ tư ngày 23 tháng 10 năm 2013)


Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

"THỜI" CỦA VĂN HỌC CÔNG NHÂN (Nhà văn Phong Điệp trả lời phỏng vấn)




(Nhân Dân) - Theo dõi đời sống văn học nhiều biến động, không ít người bày tỏ sự nghi ngờ về sức hút của văn học về đề tài công nhân. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng, văn học về đề tài công nhân không còn cần thiết. Phải chăng đã qua "thời" của văn học công nhân?
"Một thuở vàng son"
Sự thiếu vắng những tác phẩm văn học thật sự hấp dẫn, thuyết phục về đề tài công nhân khiến nhiều người không khỏi tiếc nhớ đến một giai đoạn "vàng son" trong quá khứ. Giai đoạn đó, rất nhiều nhà văn đã thành danh và ghi dấu ấn của mình với mảng đề tài này. Đó là Nguyên Hồng với bộ tiểu thuyết Cửa biển;Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ, Một chiều giông gió; Trần Nhuận Minh với Âm điệu một vùng đất, Thành phố bên này sông, Trước mùa mưa bão, Hòn đảo phía chân trời... Đó là Lý Biên Cương lăn lộn làm báo Vùng mỏ và từ đó đã viết ra những tác phẩm ấn tượng như: Khoảng không của đất, Người đãi vàng... Ông đã đoạt giải thưởng chính thức văn học về đề tài công nhân lần thứ I của Hội Nhà văn và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Xuân Cang với Suối gang, Lên cao, Trước lửa, Chặng đường nóng bỏng. Ông đã nhận Tặng thưởng văn học đề tài công nhân của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần I (1969 - 1971) và lần II (1972 - 1974). Đó là Võ Huy Tâm, người con của tỉnh Nam Định đã theo gia đình đến sinh sống và lập nghiệp ở vùng mỏ. Những ngày tháng làm thợ mỏ ở mỏ than Uông Bí đã giúp ông có những trải nghiệm quý giá để viết nên tác phẩm nổi tiếng Vùng mỏ(tiểu thuyết đoạt giải nhất Giải thưởng Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951-1952). Ngoài ra ông còn nhiều tác phẩm khác vẫn trung thành với người thợ mỏ như: Chiếc cán búa, Ngõ ngang xóm thợ, Những người thợ mỏ... Đó là Võ Khắc Nghiêm với Xung đột âm thầm, 16 tấn vàng, Tìm lại chính mình, Mạnh hơn công lý. Ông đã đoạt giải A văn học về đề tài công nhân năm 1990-1995. Một nhà văn nữa cũng rất đặc sắc là Tạ Vũ, người đã được tặng thưởng của Tổng Công đoàn Việt Nam năm 1975 cho tập Những cánh chim trời. Suốt thời tuổi trẻ của mình, Tạ Vũ xung phong đi khôi phục đường sắt ở miền tây, đi làm công nhân thăm dò địa chất. Ông không ngại xông pha, để rồi cho ra đời những tác phẩm thật sự ám ảnh với độc giả.

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Nhà văn công nhân đam mê viết về người lao động




Bùi Thu Hằng
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, với niềm đam mê sáng tác về đề tài công nhân. Anh viết như để trả nợ, những cuộc đời lam lũ, đã đồng hành cùng anh, mà “Đồng cam cộng khổ. Anh mượn những nhân vật có thật để nói nên trăn trở của mình, số phận mình . Anh bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên vào ngôi nhà văn chương, từ câu lạc bộ sáng tác văn trẻ Hải Phòng, rồi trở thành Hội viên hội nhà văn Hải Phòng. Hội viên hội nhà văn Việt Nam. Trong mười năm, từ năm 2005 - 2015, cùng với guồng quay chóng mặt, sáu tiếng một ca với công việc  lái cần trục chân đế cho Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu. Anh đã trăn trở với những trang viết nhọc nhằn về số phận con người lao động, trong kiếp phù sinh. Anh cho ra đời liên tiếp 4 tập tiểu thuyết, và 1 tập truyện ngắn. Tiểu thuyết “Chuyến hàng mưa”,  xuất bản năm 2005. Tập truyện ngắn “Mặt trời dưới lòng sông”, xuất bản năm 2008. Tiểu thuyết “Dòng sông chở kiếp”, xuất bản năm 2009. Tiểu thuyết “Thủy sinh”, xuất năm 2011. Tiểu thuyết “ 720 độ góc luân hồi”, xuất  bản năm 2015. Mười năm, với bút lực dồi dào, số lượng những đứa con ra đời của anh chỉ liệt kê cũng đủ hoa mắt. Các tập sách của anh liên tiếp nhận được các giải thưởng, từ Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, Báo Văn nghệ. Đặc biệt năm 2015 tập tiểu thuyết “720 độ góc luân hồi’ của anh được giải nhì Cuộc vân động sáng tác văn học về đề tào Công nhân và Công đoàn giai đoạn 2010 – 2014.

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

KHÁM PHÁ MỘT GÓC NHỎ CỦA HẢI PHÒNG TRONG THƠ HOÀI KHÁNH


“Và trong tôi có một Hải Phòng / Khi em nhắc tới màu hoa phượng đỏ” Phải tự hào với mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên, nhà thơ Hoài Khánh mới có những câu thơ da diết như vậy trong tập thơ Có một Hải Phòng do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn bản vào tháng 10 năm 2015.
Hải Phòng, vùng đất mà nắng làm bạc thêm lưng áo người thợ và gió làm rộn thêm tiếng còi tầu hú dài trên bến cảng, cả màu hoa phượng cũng đỏ căng để sắc màu được cháy hết mình, giống như cuộc sống sôi động của con người nơi đây. Qua tập thơ Có một Hải Phòng, nhà Thơ Hoài Khánh sẽ dẫn bạn đọc đi qua những địa danh mang vẻ đẹp rất riêng của thành phố Hải Phòng. Trước hết là Hòn Dáu, hòn đảo nhỏ có địa thế và cảnh quan thơ mộng. Trên đó còn có ngọn hải đăng cùng trạm thủy văn mà đến với khu du lịch Đồ Sơn ai cũng muốn ghé thăm.
                          Thấp thoáng mảnh mai dốc đảo
                          Theo lối em rất riêng
                          Gió đại dương phồng căng ngực áo
                          Đồ Sơn mặt trời ngả nghiêng …
                                         ( Viết ở trạm thủy văn Hòn Dáu)
Rồi đến Thăm đền Trạng Trình ngày xuân
                          Vào đền cúi lạy hồn thiêng
                          Ngoài sân cái rét tháng giêng cũng gày
                          Bạch Vân Am ở chốn này
                          Hồn người xưa đã theo mây về trời

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

CHUYỆN VỀ MỘT “NHÀ VĂN CÔNG NHÂN”




Huyền Trâm

(Báo An ninh Hải Phòng – số 3006 – thứ tư ngày 23 tháng 10 năm 2013)
“Những anh công nhân bốc xếp như chúng tôi vì cái tội ngửi mùi mồ hôi của nhau nhiều hơn mùi mồ hôi vợ mà mang nợ nhau. Chuyện của những người quanh tôi gắn bó với tôi nhiều lắm, không dứt ra được, cho nên cứ phải viết về họ: - Tâm sự của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng khi nói về đề tài công nhân lao động trong các sáng tác của anh. Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết “Thủy sinh” hay bất kì cuốn sách nào do anh viết, ít ai biết rằng tác giả của những tập truyện ngắn và tiểu thuyết ấy là một người công nhân lái cần trục chân đế tại Cảng Hải Phòng, được bạn văn yêu mến đặt cho tên gọi thân mật “ nhà văn công nhân”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng. Học xong phổ thông, vào bộ đội rồi trở về quê hương học nghề, anh trở thành công nhân điều khiển cần trục chân đế ở Cảng Hải Phòng. Thế rồi hình ảnh của những người thợ cùng với cuộc sống sôi động luôn hiện ra trước mắt anh. Anh cho rằng, hiện thực cuộc sống lao động với những người công nhân Cảng Hải Phòng đã và đang diễn ra trước mắt đủ nuôi cả một đời văn cho những ai ham mê viết lách, chẳng riêng gì anh.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2015

ĐỘI NGŨ VIẾT VĂN TRẺ HẢI PHÒNG HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG “HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”



(Bình minh mưa)

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người hiện thân của những giá trị đạo đức, văn hoá của dân tộc - Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng để toàn đảng, toàn dân noi theo. Coi đạo đức là nền tảng của con người cách mạng, Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
 "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là cuộc vận động sâu rộng trong toàn đảng, toàn dân ta nhằm đáp ứng được với những vận hội mới, thách thức mới, để đưa nước ta trở nên đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, báo đáp lại công ơn của con Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập, thống nhất cho dân tộc Việt Nam, vì một thế giới hoà bình và phát triển. Hội liên hiệp văn học nghệ thuật thành phố Hải Phòng phát động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học - nghệ thuật về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là hành động thiết thực của những văn nghệ sĩ đất Cảng góp một tiếng nói cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng tiếp tục cổ động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào "Người tốt việc tốt", nêu gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.
Ngày 20 tháng 10 năm 1946, khi đặt chân xuống bến Cầu Ngự Người hằng mong, Hải Phòng sẽ trở thành thành phố gương mẫu trong nước ta. Trải qua chặng đường dài đấu tranh và dựng xây, chúng ta đã làm được gì để thoả lòng mong mỏi của Người? Đội ngũ công nhân Hải Phòng đã đóng được những con tầu trên năm vạn tấn, hơn mười hai triệu tấn hàng hoá qua đôi vai người công nhân Cảng đi đến mọi miền Tổ quốc, hàng triệu tấn sắt thép, xi măng ra lò ... Hãnh diện lắm chứ khi thành phố đã thực sự là một trong những thành phố công nghiệp hàng đầu trong cả nước.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

NHỮNG BỨC ẢNH TẠI ĐẠI HỘI IX HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

(Nguyễn Quốc Hùng)

(BCH từ trái qua phải: Nguyễn Bình Phương, Khuất Quang Thụy, Trần Đăng Khoa, 
Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Trí Huân)

(Nhà văn Vũ Tú Nam)

( Cùng nhà văn Phạm Viết Đào)

(Hai cha con nhà văn Lê Hồng Thiện, Lê Hồng Nguyên)


(Nhà văn Mạc Can và nhà thơ Tạ Văn Sỹ)

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

DUNG DĂNG DUNG DẺ, DẮT BIỂN LÊN TRỜI

(Với nhà thơ Hoài Khánh)

“Dung dăng dung dẻ, dắt biển lên trời” - Đọc xong tập thơ Dắt biển lên trời của nhà thơ Hoài Khánh do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành tháng 2 năm 2012, những câu chữ này chợt bật lên trong tôi. Vế đầu là câu đồng dao quen thuộc, vế sau là một câu hoàn toàn phi lý. Nhưng cả câu có một đặc điểm chung đó là dễ nhớ, dễ thuộc, giầu âm thanh và hình ảnh. Đó mới là trẻ con!
Con đường đến trường của bầy trẻ thơ làng chài thật độc đáo, thật hình tượng.
                          Từ làng chài vào lớp
                          Đường nằm trong khoang thuyền
                          Bầy trẻ thơ đi học
                          Ngồi trên sóng chơi vơi
                                          (Đường ở đảo)
Một hiện tượng thiên nhiên đã được nhân hoá. Sấm dữ dội với người lớn nhưng với trẻ thơ thành người bạn hiền, gần gũi, mới xa nhau mấy tháng đã nhớ nhung, mong  đợi, dỗi hờn.
                          Trốn suốt mùa đông
                          Chẳng về ăn tết
                          Tháng ba rét hết
                          Sấm mới chơi xuân
                                                    (Sấm)

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

CHẤT XÚC TÁC LÀM NÊN “KỊCH ĐỘC” CỦA NHÀ VĂN LƯƠNG VĂN CHI


(Nhà văn Lương Văn Chi)

Những con người nhọc nhằn, bon chen để kiếm lấy miếng ăn hàng ngày chỉ với ước mong nhỏ nhoi là sẽ được tồn tại, sẽ được sống. Những phận người lay lắt, lập lờ trôi trên dòng sông cuộc đời. Trôi về đâu? Và đâu là giá trị trường tồn của cuộc sống? Đọc và cùng cảm nhận những suy nghĩ đó với nhà văn Lương Văn Chi qua tập truyện ngắn Kịch độc do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành tháng 5 năm 2011.
Vốn sống, đó là một trong những tiêu chí hàng đầu trong công việc của người viết văn xuôi. Cho dù theo lối viết cổ điển hay đến xu hướng hiện đại ngày nay thì trong mỗi tác phẩm của nhà văn không thể không có nhân vật của riêng mình. Mỗi nhân vật phải mang trong mình hơi thở của cuộc sống. Nhân vật văn học ở quanh ta nhiều lắm nhưng người viết gom nhặt được những gì để tạo nên tác phẩm đó lại là cơ duyên và sự nhạy bén của mỗi người. Những mẩu gỗ vụn, những cành rào, cành rong hay đến những súc gỗ quý đều tạo nên một sản phẩm thông qua bàn tay chế tác của người thợ. Và trong muôn vàn loại “gỗ” cuộc đời thì người thợ cưa xẻ Lương Văn Chi đã chọn nhặt những “cành rào, cành rong” ở bờ ở bụi để làm nên tác phẩm cho riêng mình.
“Thỉnh thoảng bố lại thở dài, lẩm bẩm một mình: Mẹ kiếp! Kiểu này, rau úa cũng không có mà ăn!” Đó là cảnh đời của một gia đình sống trong cái vuông nhà trọ sau khi di dời đất ở quê để làm khu công nghiệp, bố đạp xích lô, mẹ gánh rau bán dạo nuôi hai đứa con nhỏ. (Cún và người). Một cô gái điếm phải làm tình với “Năm trăm thằng! Ông biết đếm chứ, năm trăm thằng! Gấp đôi đàn ông cái làng này!” mới ki cóp để dành được hai mươi triệu. (Kịch độc) “Thậm chí mấy lần khát nước, anh cũng không dám sang cái quán gốc cây bên kia đường,…., bởi trong ví của anh, ngoài giấy tờ ra, anh chỉ còn chẵn 10 nghìn để đổ xăng” Tài sản của người xe ôm chỉ có vậy. (Cuốc xe đêm). Từ một người thất nghiệp như Lương  thì nguồn thực phẩm chủ yếu của gia đình chỉ là “nhiều kí lô gam muối hạt ngô và những mớ rau muống” (Một ngày kiếm việc) Đến những người được dán mác công nhân nhà nước cũng phải để dành bộ quần áo bảo hộ mới lĩnh cho những lúc “Chả nhẽ tôi cứ phải nói như đục vào tai cô mới nhớ được hay sao? Để lúc hết gạo, chậm lương, mang ra vườn hoa kia, cô nhớ chưa?” (Hy râu) Hay một thanh niên to cao như Sơn trong Hiệp Sĩ, sức khoẻ loại A hoa, có bằng tú tài và lý lịch trơn tru cũng không xin nổi việc ở cơ quan nào để mỗi sáng ngủ dậy phải chờ mẹ phát chẩn vài nghìn ăn quà sáng.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

CẢM NHẬN THUYỀN NGHIÊNG

(NV Dương Thị Nhụn)

Vươn ra biển lớn - Khát vọng của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ và của cả quốc gia. Một trong những con thuyền đang vươn khơi xa, đang phải chơi vơi giữa phong ba bão táp cuộc đời có con thuyền của dòng họ Hoàng làng Đông Phong trong tiểu thuyết “Thuyền Nghiêng” của nhà văn Dương Thị Nhụn do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành tháng 10 năm 2011. Liệu con thuyền mang tên họ Hoàng ấy có vượt qua sóng gió để những thuyền viên trên đó đạt được mong ước, công thành danh toại, đáng mặt anh hào với đời?
Con thuyền họ Hoàng quy tụ từ thế hệ tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ như anh em nhà ông Tấn, ông Vấn … , đến thế hệ sinh ra trong những ngày Đất nước xây dựng và phát triển kinh tế như thằng Bằng anh, Bằng em, Tố …, có cả những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ, thậm chí cả linh hồn cụ tổ họ Hoàng cũng về tham gia vào chèo lái con thuyền. Mỗi thuyền viên một tính cách. Vậy con thuyền họ Hoàng ra khơi bằng định hướng nào? Ông Vấn là người sống với hoài niệm, cố dìu dắt con thuyền hướng theo dấu vết một thời máu lửa, hy sinh thân mình vì sự tồn vong của Dân tộc, hy sinh cho những điều cao cả mà ông đã trải qua. Ông Húng cũng là người đã đi qua cuộc chiến tranh chống Mỹ, nhưng ông là người có lý lịch cá nhân và tính cách nhập nhèm cho nên không thuyết phục được ai, không được ai tôn trọng mặc dù ông là người đạt được học hàm cao nhất trong dòng họ vào thời điểm này. Thằng Tố giầu nứt đố đổ vách, muốn hướng con thuyền bằng những đồng tiền không chính đáng. Liệu con thuyền có đi theo hướng chèo lái của bố con ông Hình sống phóng túng, chỉ mưu mô làm hại người khác. Thằng Bằng anh, Bằng em côn đồ. Trên con thuyền còn có thằng Vớ ngớ ngẩn và Hãn, người đàn bà “khát tình”… những con người hiền lành, sống chân tình.

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

CON ĐƯỜNG HƯỚNG THIỆN CHO NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT “THUỶ SINH” CỦA NGUYỄN QUỐC HÙNG

(Thảm họa)

Đọc xong cuốn thiểu thuyết “Thuỷ sinh” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, tháng 10 năm 2011) tôi không khỏi băn khoăn, trong số những con người đang vật vã mưu sinh trên dòng sông Cấm thì đâu là con người lương thiện? Những con người sống nhờ dòng sông ngàu đục, đỏ như màu tôm luộc, họ cũng là một kiếp thuỷ sinh. Vậy đâu là ánh sáng hướng thiện cho cuộc đời của những con người này tác giả muốn đề cập tới?
 Những con người mưu sinh bằng nghề “gắng cào bùn cho nhanh để tìm những mẩu sắt vụn rơi xuống”, và “ngửa cả ngày cho bọn thuỷ thủ “đâm” tả tơi, thế mà khi về đi nhờ sang sông mà mẹ con nhà Cống cũng lấy hai chục” “Chẳng lẽ ngày nào cũng chấn tiền của công nhân” và còn cả tầng lớp người “Nó đã học được kỹ nghệ này ở trường đời, từ chính những kẻ như Luật là quan chức mà hám tiền hám gái mà ra”. Cực nhọc, khổ nhục, thậm chí phải đổ máu mới kiếm được “Mỗi chuyến tàu rời bến, moi móc lòng sông cũng kiếm đủ gạo ăn một tháng. Lần nào cũng hy vọng công nhân bốc xếp làm ẩu để rơi hàng xuống sông thật nhiều còn kiếm thêm chai rượu”. Triết lý cuộc đời của những con người vật vã mưu sinh này, “Tựu chung lại, tình và tiền hợp lại thành thứ đạo để con người tôn sùng và trút giận. Tiền càng nhiều, tình càng rộng thì con đường đạo càng thênh thang”. Với triết lý cuộc đời ấy, họ như một mũi tên đã rời cây cung bay về đích “Hãy nhanh chân đạt được mục đích đi, nếu không mình sẽ là người đến chậm” vì vậy “Tiền! Vì tiền mà chúng mày cắn xé nhau như chó. Chỉ một miếng sắt vài chục bạc mà hôm nọ thằng Cường “kễnh” suýt đâm chết thằng Vinh “vổ””